TRANG CHỦ
    GỐM CỔ GÒ SÀNH
    BẢO TÀNG GỐM GÒ SÀNH
      - Gốm Thờ Tự
      - Gốm Ngự Dụng
      - Gốm Thương Mại
      - Hoạt động và sự kiện
    TƯ LIỆU VÀ NGHIÊN CỨU
    BÌNH ĐỊNH XƯA VÀ NAY
      - Võ Nghệ
      - Ẩm Thực
      - Văn Học
      - Âm Nhạc
    TỪ TRONG DI SẢN
    ẢNH GOSANH.VN
    VIDEO
    LIÊN KẾT
 Khách Thăm: 001070768
< d>
< d>
< d>
< d>
< d>
 
Mandala (phan 3)
07.09.2010 09:23 - 3447

“Bản đồ Đông Nam Á cổ xưa được suy ra/lấy ra từ những mạng lưới các khu định cư nhỏ thời tiền sử và được thấy trong các ghi chép lịch sử là một sự chắp vá (patchwork) của các mandala thường xuyên chồng chéo nhau”. Thế giới Đông Nam Á cổ xưa trên thực tế là một xứ sở thần bí. Nó mang ý nghĩa mandala cả trong tôn giáo và chính trị.

Những “vòng tròn nhà nước” ở Đông Nam Á cổ xưa. 

“Bản đồ Đông Nam Á cổ xưa được suy ra/lấy ra từ những mạng lưới các khu định cư nhỏ thời tiền sử và được thấy trong các ghi chép lịch sử là một sự chắp vá (patchwork) của các mandala thường xuyên chồng chéo nhau” (39). Thế giới Đông Nam Á cổ xưa trên thực tế là một xứ sở thần bí. Nó mang ý nghĩa mandala cả trong tôn giáo và chính trị.

 Đông Nam Á cổ xưa khác với những bản sao Ấn Độ của họ trong ý niệm về “ekacchatra” (one-umbrella sovereignty - tức “ô bảo trợ duy nhất”) không được phát triển lắm. Điều này có thể là do sự đa dạng về địa lý (gồm vùng lục địa và vùng quần đảo) và kết hợp với những trải nghiệm lịch sử. Tất nhiên, tước vị “Cakravartin” đã được chấp nhận một cách rộng rãi trong ý niệm, nhưng sự thực thi của nó trong hình thức của một nhà nước đế chế (Imperial state) hầu như không có liên quan trong những chính thể có tầm hiểu biết chiến lược, chẳng hạn như Angkor đã từng tồn tại 6 thế kỷ; hay sự nương nhờ vào mạng lưới buôn bán trên biển như trường hợp của Srivijaya. So sánh với Đại Việt ở châu thổ sông Hồng đã bị cưỡng bức bởi sự áp chế và mô thức Trung Hoa để phát triển một nhà nước theo kiểu đế chế hùng mạnh theo cách riêng của họ.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, khoảng từ thế kỷ V TCN đến thế kỷ III SCN là thời kỳ hình thành của các mandala ở Đông Nam Á, từ thế kỷ III đến thế kỷ XVI là thời kỳ phát triển và chuyển biến của các mandala. Chế độ xã hội mandala - một loại chế độ xã hội vừa mang tính tôn giáo vừa mang tính phong kiến ở Đông Nam Á. Trước khi có những mandala thì xã hội Đông Nam Á còn ở tình trạng bộ lạc với các tù trưởng (chiefdoms). Phù Nam, Lâm Ấp, Chân Lạp là những mandala như thế. Mỗi mandala bao gồm một khu vực địa lý dưới sự thống trị, và làm chủ của một vị vương- vừa như nhà vua, vừa là người được tôn sùng như một lãnh tụ về tôn giáo. Nhưng mandala không có một biên giới nhất định; ranh giới của nó rất co giãn, nó thường xuyên thay đổi (fluid) tùy theo sức mạnh và tầm ảnh hưởng của nhà vua thống trị. Mandala chưa phải là một quốc gia, một nước có chủ quyền, có quy luật truyền ngôi, có biên giới rõ rệt.

 Vào những thế kỷ V-IX, ảnh hưởng của Hindu giáo khiến cho những ông vua Đông Nam Á (cả vùng lục địa và vùng quần đảo) đồng nhất mình với thần Siva, .... “Những mandala đế chế” (Imperial mandalas) được cho là bắt đầu nổi lên vào những thế kỷ IX-XII, một thời kỳ cũng được biết đến như là thời kỳ Đông Nam Á cổ truyền (Classical Southeast Asia) bởi đó chính là thời kỳ đỉnh cao của những sáng tạo văn hóa vật chất. Những phức hợp đền đài vĩ đại đã được xây dựng (chẳng hạn như Ananda ở Bagan-Myanmar, Ankor ở Campuchia, Borobodur và Prambanan ở miền Trung Java) và những hệ thống kinh tế nông nghiệp dựa vào tưới tiêu và nền thương mại biển được phát triển. Ngoài những chính thể mandala Hindu giáo - Phật giáo, cũng chứng kiến sự nổi lên của những chính thể mandala Hồi giáo như là Melaka - người tiếp tục đế chế  thương mại biển Srivijaya. Những chính quyền Hồi giáo cũng kết nối với một tôn giáo chính thống thông qua việc truyền bá rộng rãi niềm tin/lòng trung thành.

Về phương diện lịch sử, những nhà nước bá chủ (overlord states) là Campuchia, Sumatra, Java, Philippines, Ayuthaya, Đại Việt và Trung Hoa (40). Trong đó, Trung Hoa chiếm giữ một vị thế đặc biệt mà thường có ít nhất ba nước tới triều cống mặc dù trên thực tế bổn phận/nghĩa vụ mà họ bị áp đặt là rất nhỏ. Những nhà nước chư hầu đáng chú ý nhất là Campuchia, Lan Xang (được kế tiếp bởi Vientiane và Luang Prabang) và Lanna. Đẩy xa hơn chút nữa, Campuchia còn được hoàng đế Gia Long miêu tả là “một đất nước độc lập mà làm nô lệ của hai nước” (41).

Vòng tròn nhà nước (The statal circle) cũng được hiểu qua trường hợp ông vua sáng lập vương triều Angkor, Jayavarman II, người được miêu tả một cách trịnh trọng như là “người chinh phục chu trình những kẻ thù" (42). Angkor được thành lập vào thế kỷ IX ở hạ lưu châu thổ Mekong sau một thời kỳ bất ổn bởi các cuộc chiến giữa các thủ lĩnh (chiefdoms), Angkor đã tồn tại gần 6 thế kỷ như là trung tâm vương quyền của người Khmer.

Trong buổi hành lễ của một người Bàlamôn Ấn Độ trên đỉnh Mahendra (gần Angkor) năm 802, Jayavarman II đã được công bố là “Cakravartin” và được tôn kính như là hiện thân của thần Siva. Sau khi ông qua đời vào năm 850, con trai ông là Jayavarmarn III, nối tiếp ngôi vương đến khi ông ta chết năm 877. Sau đó đến Indravarman, người trị vì đến năm 889 và con trai của ông ta Yasovarman I trị vì đến năm 900. Quyền kế vị không nhất thiết phải là cha truyền con nối, trừ khi những nỗ lực của ông vua tương lai nhằm tạo ra một bảng phả hệ hoàng tộc.

Như K. Taylor đã chỉ ra rằng: “Những bảng phả hệ và những lời tuyên bố về quan hệ huyết thống với các bậc tiên vương là bộ phận của quy trình hợp pháp hoá, nhưng cơ chế của việc kế vị vẫn tác động tới khả năng nắm quyền của những người muốn lên ngôi báu ở Angkor (43).

Trong những ngày hoàng kim của mình, Angkor đã trải rộng chính thể mandala của mình trên khắp khu vực mà ngày nay là nước Campuchia, châu thổ Mekong và một phần của Lào và Thái Lan. Danh tiếng của Yasovarman được nâng lên cao bởi những công trình xây dựng vĩ đại của ông ta: Các tu viện và đền miếu thờ Siva, Visnu và Phật được xây dựng trong qua quá trình hình thành mandala, được coi như một hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ. Một ông vua khác là Suryavarman II (nắm quyền từ 1113-1150) có nghĩa vụ xây dựng Angkor Vat lừng danh. Một thành phố thủ đô mới, Angkor Thom với đền thờ Bayon ấn tượng, đã được xây dựng bởi Jayarman VII, người nắm quyền từ 1181 đến khi ông ta chết khoảng năm 1218/19. Các đền đài không chỉ nắm giữ chức năng tôn giáo mà còn đóng vai trò là những trung tâm hành chính, thủ công, và các kho ngũ cốc. Do vậy mạng lưới đền đài, nắm giữ bởi tầng lớp quý tộc, là một phần của việc quản lý nền tảng sản xuất nông nghiệp thịnh vượng. Rõ ràng, họ đã dựa vào những vựa lúa nước được hỗ trợ bởi hồ Tôn Lesap. Một nền tảng nông nghiệp thành công như vậy có thể đảm bảo cho một dân số khoảng 1 triệu người (so sánh với 35.000 người ở London) cũng như mandala đền đài, đến lượt nó lại duy trì hệ thống này.

 Trong những ngày cuối cùng của Angkor, đã xuất hiện ba xu hướng: nổi lên tình trạng chống đối trong các vương quốc chư hầu, một sự dịch chuyển về sức mạnh kinh tế từ kinh tế trồng lúa sang ngoại thương, đặc biệt với sự phát triển của nền sản xuất gốm ở Xiêm; và một sự thay đổi về tôn giáo định hướng tới Phật giáo Tiểu thừa (Theravada Buddhism). Những người Khmer đã rời bỏ thủ đô của họ vào năm 1434 và thiết lập một thủ đô mới ở Phnôm Pênh. Ayudhya ngược lại trở thành mandala chi phối (a dominant mandala) (44).

Vương quốc Ayuthaya của người Thái thành lập năm 1350 quan hệ gần gũi với Lopburi ở bờ Tây lưu vực Chao Phraya, và Loburi đôi khi là một phần của mandala Angkor trong các thế kỷ XI-XII. Ông vua Naresvara của Ayuthaya, vào năm 1592 đã đề nghị được giúp đỡ Trung Quốc chống lại Nhật Bản theo chủ nghĩa bành trướng dưới thời Hideyoshi vàog cuối thế kỷ XVI. “Nhật Bản như là một kẻ thù phía sau lưng, có thể trở thành một kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm trừ khi Hideyoshi bị quy phục. Trong hoàn cảnh này, nếu theo mô hình của Kautilya thì Trung Quốc là “đồng minh phía sau” của Naresvara.                                                                          

 Mandala Srivijaya tồn tại từ thế kỷ VII đến ít nhất thế kỷ XI, dường như có tầm ảnh hưởng văn hoá lâu dài, cho dù vẫn có sự không rõ ràng về thời gian, không gian địa lý và bản sắc/đặc tính chính trị. Còn có nhiều tranh luận về việc đâu là thủ đô của vương quốc này ở những thời điểm khác nhau hoặc là sự mở rộng ảnh hưởng của nó tới vùng đất liền. Từ vùng trung tâm Malay và phía sau vùng trung tâm và nam bờ biển phía tây Sumatra, một mạng lưới của người Srivijaya của những trung tâm nói tiếng Malay phát triển khắp vùng quần đảo Riau-Lingga của cái gọi là “vùng biển của những người Gipsy” (Sea gypsies) tới bờ nam của bán đảo Malay (45). 

 Cổ sử Philippines nhắc nhở chúng ta về một đặc trưng có tính bản chất của hiện tượng mandala phổ biến ở Đông Nam Á cổ đại. Trung tâm mandala được ghi nhận sớm nhất là ở đảo Mindoro, Tây - Nam Luzon, được đề cập tới lần đầu vào nửa cuối thế kỷ X như là một trung tâm buôn bán, đựơc người Trung Quốc biết đến như là Ma-i (Mait) đã từng đi tàu tới Quảng Đông (Canton).

Một vương quốc được coi là một mandala điển hình trong lịch sử cổ xưa của Đông Nam Á là mandala Champa hình thành từ thế kỷ II SCN ở miền Trung Việt Nam ngày nay. Lãnh thổ vương quốc Champa trải dài từ phía nam Đèo Ngang, thuộc tỉnh Quảng Bình cho đến lưu vực sông Đồng Nai thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay. Do ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ rất sớm bằng con đường hải thương, nên vương quốc Champa đã áp dụng một thể chế hành chính tương tự miền Nam Ấn Độ, nghĩa là một vương quốc bao gồm nhiều tiểu quốc gọi là mandala. Nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương thông qua việc khảo cứu các nguồn tài liệu bi ký cùng việc khảo sát trên thực địa đã cho rằng, “cứ theo những yếu tố môi sinh và địa lý cảnh quan tại miền Trung Việt Nam, cho phép chúng tôi (Trần Kỳ Phương - TG) đi đến giả định rằng, mỗi tiểu quốc trong vương quốc Champa có thể được hình thành dựa vào năm yếu tố phong thủy như: 1, Núi thiêng, tượng trưng thần Siva; 2, Sông thiêng, tượng trưng nữ thần Ganga vợ thần Siva; 3, Cửa biển thiêng, nơi giao dịch buôn bán, trung tâm hải thương; 4, Thành phố thiêng, nơi cư ngụ của Vua và hoàng tộc, trung tâm vương quyền; 5, Đất thiêng, nơi thờ tự thần linh và tổ tiên, trung tâm thần quyền”.

 Do địa hình đặc trưng của miền Trung Việt Nam mà ranh giới riêng của mỗi mandala có lẽ được ấn định bởi những ngọn đèo, nhưng đây chỉ là ranh giới có tính chất tượng trưng vì đất đai được thần linh cai quản. Mỗi tiểu quốc có kinh đô riêng với các tổ chức kinh tế, quân sự độc lập do các tiểu vương cai trị. Mỗi vương quốc lại bao gồm những tiểu quốc nhỏ hơn nữa, đứng đầu là những thủ lĩnh hoặc thủ lĩnh. Những tiểu quốc nhỏ yếu phải thần phục vương quốc mạnh hơn. Vị vua hùng mạnh nhất vương quốc được tôn xưng là Rajadhiraja, nghĩa là vua của vua, thường được nhắc đến trong văn bia Chăm mà các nghiên cứu từ đầu thế kỷ như Maspero hay G. Coedès đã cho chúng ta biết.




 KẾT LUẬN

 Đông Nam cổ xưa là một thế giới vừa mang tính huyền bí vừa đa dạng và phức tạp. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều thuật ngữ để chỉ về sự hình thành các nhà nước, các trung tâm và cấu trúc quyền lực của thế giới Đông Nam Á và coi các chính thể tồn tại trong lịch sử cổ trung đại như là những “chính thể thiên hà” (galactic polity), “chính thể mặt trời” (solar polity), “negara” hay những “mandala” thần bí. Việc nghiên cứu các thiết chế chính trị và mối quan hệ giữa các quốc gia Đông Nam Á qua mô hình mandala đã mang lại cho chúng ta những nhận thức và kiến giải lý thú về lịch sử, văn hoá khu vực.

 Trong mỗi mandala, vai trò của các cá nhân, nhân vật trung tâm và thủ lĩnh (chiefdom) hay “người dũng cảm” (man of prowess) được đề cao và có vai trò tiên quyết đối với sự phát triển, mở rộng tầm ảnh hưởng và duy trì thế lực lâu dài của một mandala. Nhân vật trung tâm đó đồng nhất mình với quyền lực thần thánh và phổ quát, khẳng định quyền bá chủ đối với những nhà cai trị khác trong mandala, thậm chí là cả với nhiều mandala khác, những người được coi là những đồng minh hoặc chư hầu. Từ nền tảng đó, dưới thời kỳ trị vì của các ông vua kiệt xuất như Jayavarman II ở Angkor, hay Naresvara ở Ayutthaya... các vương quốc này đã trở thành những “đế chế mandala” hùng mạnh có tầm ảnh hưởng rộng lớn đối với lịch sử khu vực. Tuy nhiên, việc đề cao vị thế của những nhân vật trung tâm, trong khi thiếu vắng một mô hình thế tập “cha truyền con nối” kiểu Trung Hoa, có thể lại là một nguyên nhân dân tới sự thiếu ổn định lâu dài của các vương quốc cổ ở Đông Nam Á.

 Do tác động của điều kiện tự nhiên, sự đa dạng về nguồn gốc tộc người, văn hoá cũng như đời sống tín ngưỡng, tôn giáo nên việc thiếu vắng một mandala giữ vị trí trung tâm, có thể duy trì quyền lực lâu dài và được dẫn dắt bởi một hệ tư tưởng chung, thống nhất. Mandala đó cũng khó có thể có được một tiềm lực vũ trang, kinh tế hùng mạnh đủ để chi phối tất cả các mandala khác khiến cho Đông Nam Á không thể có được sự thống nhất - dù các quốc gia khu vực luôn chia sẻ nhiều giá trị chung. Trên một số phương diện, chính sự tản quyền đó đã tạo ra cho Đông Nam Á một lịch sử phát triển đa dạng, phong phú nhưng cũng vô cùng phức tạp. 


39. O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd,  p. 27.

40. O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd, p. 27-40, và 126-154

41.Chandler David (1983), A History of Cambodia. Westview Press, p.119.

42. Higham, Charles (1989), The Archaeology of Mainland Southeast Asia, Cambridge: Cambridge University Press. p. 259.

43.Keith W. Taylor (1992), 'The Early Kingdoms', in trong: Nicholas Tarling (Ed.) The Cambridge History of Southeast Asia, Vol. 1, Cambridge: Cambridge University Press, p.159.

44.Rosita Dellios (2003), Mandala: From Sacred origins to Sovereign affairs in traditional Southeast Asia.

45.O.W. Wolters (1999), History, Culture and region…Sđd, p. 32.

ĐỖ TRƯỜNG GIANG (Theo Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á )



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:



NHỚ MẮM
VÌ SAO BAO TÀNG THIẾU SỨC SỐNG
KIẾN TRÚC TRE VIỆT NAM ĐƯỢC VINH DANH TẠI MỸ
QUÊN NGƯỜI
BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỚI QUẢ TIM BẤT DIỆT.
Mắm ruột mà quệt cà giòn...
BIỂN & NỖI NHỚ!
Tản văn cho biển
Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20
TAM QUAN TRONG KIẾN TRÚC VIỆT
Bình thơ: Vua và em - Trần Viết Dũng
Rằm giêng hát bội Phò An
Để “mọi quyền hành, lực lượng đều nơi dân”
"Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"
Người Bình Định và làng Việt tại Pleiku


© Copyright 2007 - 2017 Gosanh.vn 
BẢO TÀNG GỐM CỔ GÒ SÀNH VIJAYA - CHAMPA - BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: khu du lịch Bãi Dại - phường Ghềnh Ráng - T/P Quy Nhơn - Bình Định.
Điện thoại: 84.0913472778 - 84.0946940666. Email: museum@gosanh.vn