TRANG CHỦ
    GỐM CỔ GÒ SÀNH
    BẢO TÀNG GỐM GÒ SÀNH
      - Gốm Thờ Tự
      - Gốm Ngự Dụng
      - Gốm Thương Mại
      - Hoạt động và sự kiện
    TƯ LIỆU VÀ NGHIÊN CỨU
    BÌNH ĐỊNH XƯA VÀ NAY
      - Võ Nghệ
      - Ẩm Thực
      - Văn Học
      - Âm Nhạc
    TỪ TRONG DI SẢN
    ẢNH GOSANH.VN
    VIDEO
    LIÊN KẾT
 Khách Thăm: 001080637
< d>
< d>
< d>
< d>
< d>
 
Khái niệm Mandala trong nhận thức và cách nhìn của các học giả quốc tế (phần 2)
27.08.2010 12:14 - 3570


Cấu trúc của kiểu “Nhà nước mandala” ở Đông Nam Á cổ xưa 

Giáo sư O.W. Wolters là người đầu tiên đã giải thích mandala như là một thuật ngữ chỉ “các quan hệ quốc tế của Đông Nam Á truyền thống” (những mối quan hệ giữa các mandala). Thuật ngữ mandala hay “circles of kings” theo cách dùng của giáo sư O.W. Wolters, được các nhà nghiên cứu dùng để diễn tả một hệ thống chính trị kinh tế đã được phát hiện tại hầu hết các quốc gia cổ ở Đông Nam Á. Khởi nguyên từ các tôn giáo thần thánh, khái niệm mandala trở thành một ngôn từ chính trị ở Ấn Độ cổ xưa với ý nghĩa tránh sử dụng thuật ngữ “Nhà nước” (State) trong ý nghĩa thông thường. Trong ý nghĩa một tổ chức chính trị, mandala lỏng lẻo hơn, dưới cấp một quốc gia và có thể được biểu diễn bởi những vòng tròn không đồng tâm nhưng giao cắt với nhau. Theo Boike Rehbein thì trong ngôn ngữ của người Thái mandala chính là “Muang” (13) , mà tiếng Việt gọi là “Mường”.

Không chỉ bởi vì các chính thể Đông Nam Á không theo như cách nhìn của Trung Quốc và phương Tây về một nhà nước được xác định rõ ràng về mặt lãnh thổ với những biên giới cố định và một bộ máy quan liêu, mà còn bởi chúng khác đáng kể theo hướng ngược lại: các chính thể này được xác định nhờ trung tâm hơn là những đường biên giới của chúng và có thể bao gồm nhiều chính thể chư hầu khác mà không nhất thiết phải có sự hoà nhập về mặt hành chính. 

Gesick miêu tả hệ thống của vùng Đông Nam Á thời cổ như một cấu trúc ghép nối gồm những đơn vị chính trị rộng lớn hơn, trong những đơn vị chính trị đó những trung tâm cấp hai và cấp ba giữ được nhiều quyền tự trị, đổi lại chúng thừa nhận uy quyền về mặt tôn giáo của vùng trung tâm. Hơn nữa, phạm vi ảnh hưởng có thể dịch chuyển từ một trung tâm này tới trung tâm khác, do đó nhà nước trong ý nghĩa nào đó lỏng lẻo và không chắc chắn (14).

Những thuật ngữ khác có thể so sánh với mandala được các nhà sử học Đông Nam Á tiền thực dân sử dụng là: “Negara”, một từ Sanskrit nghĩa là vương quốc (kingdom), được Geertz sử dụng như là Nhà nước hiện hữu (theatre state) (15) để biểu thị vùng nằm dưới ảnh hưởng của một đô thị; và “chính thể ngân hà” (galactic polity) (16), theo đó những thể chế chính trị yếu hơn bị hút về phía thể chế mạnh hơn (17). Cả ba chính thể mandala, negara và galactic đều đề cao tầm quan trọng của người lãnh đạo có uy tín trong một hệ thống chính trị hay thay đổi.

 Những cách ẩn dụ khác chẳng hạn như ý tưởng ban đầu của Tambiah về một “chính thể ngân hà” (galactic polity) (18), miêu tả những mô hình chính trị tương tự như mandala. Ẩn dụ về một “Chính thể mặt trời” (solar polity) được nhà sử học Victor Lieberman thuộc đại học Michigan ưa thích hơn, bởi vì trong hệ mặt trời có một khối trung tâm, mặt trời và những phần hợp thành hay các hành tinh của hệ mặt trời hoàn toàn có thể được liệt kê, không giống như những thiên hà (19).

Ở một chừng mực nào đó giống với chế độ phong kiến của châu Âu. Các nhà nước được kết nối với nhau vào các mối quan hệ triều cống với một siêu lãnh chúa (overlord). Tuy nhiên, so với chế độ phong kiến mang lại sự độc lập lớn hơn cho những nhà nước lệ thuộc (subordinate states); nó nhấn mạnh các quan hệ cá nhân hơn là các quan hệ chính thức hay lãnh thổ; và nó thường không phải là độc nhất (non-exclusive). Do thế, một vài khu vực riêng biệt có thể trở thành thần dân/thuộc quốc (subject) của một cường quốc hoặc không.

Nhà nghiên cứu Narendra Nath Law định nghĩa mandala là một “vòng luân chuyển nhà nước” (statal circle) (20) và tác giả đã giải thích rằng: các nhà làm luật Ấn Độ cổ đại thường dùng thuật ngữ mandala để ám chỉ một nhóm nhà nước (a cluster of states), các hoạt động của chúng có thể được phát huy trên thực tế nhờ những động thái chính trị của bất kỳ một nhà nước nào trong số chúng. Mandala với cách hiểu là một “vòng luân chuyển nhà nước” đã được đề cập trong nhiều nguồn tài liệu cổ đại khác nhau. Chúng bao gồm những Thiên anh hùng ca Hindu giáo, Mahabharata (đặc biệt là cuốn thứ 12) và Ramayana; Puranas; và bộ sách luật Manusamhita (Luật Manu) về Hindu giáo và ứng xử xã hội được bắt nguồn từ luật Manu, tổ tiên của loài người. Điều quan trọng nhất, xét về đặc trưng, là luận thuyết về xã hội có tổ chức, như là Nitisara (Bản chất của chính trị) của Kumandakiya…

Vòng luân chuyển nhà nước (Statal circle) với mục đích của việc tạo ra các lý thuyết chiến lược - hay như N. N. Law gọi là “những suy tính” (deliberations) - thường được cấu trúc thành một hệ thống khoảng 12 nhà nước (có thể là nhiều hơn hoặc ít hơn), với 1 trong số đó được chọn làm “vijigisu” giữ vai trò như trung tâm định hướng cho kế hoạch chiến lược của mandala (21).

 Do đó một Vòng luân chuyển nhà nước hay “Chu trình nhà nước” (Statal circle) được cấu thành bởi một sơ đồ, có thể phác dựng:

- Một trung tâm (“vijigisu”);

- Phía trước là 5 vương quốc ở 5 khu vực, chúng là “kẻ thù” (ari), “bạn” (mitra), “bạn của kẻ thù” (arimitra), “bạn của bạn” (mitra-mitra)  và “bạn của bạn của kẻ thù” (ari-mitra-mitra).

- Trong khi ở phía sau của vijigisu là bốn nhà nước ở bốn khu vực gồm “kẻ thù ở phía sau” (parsnigraha), “đồng minh ở phía sau (akranda), “đồng minh của kẻ thù ở phía sau (parsnigrahasara), và “đồng minh của đồng minh ở phía sau” (rear friend’s friend) và:

- Ngay sau vijigisu là 2 vương quốc, “madhyama’’ (quyền lực trung đẳng) và “udasina’’ (quyền lực thượng đẳng). Do đó có 4 vòng tròn nhà nước chính yếu, 12 ông vua, 60 đơn vị có chủ quyền và 72 đơn vị nhà nước” (22).

Nghĩa ban đầu của thuật ngữ vijigisu là “người chiến thắng”. Tuy nhiên, thuật ngữ này không chỉ hiểu theo ý nghĩa quân sự đơn thuần. Những cuộc chiến tranh huỷ diệt có thể xoá bỏ mandala như một “hệ thống giữa các tiểu vương quốc”. Mabbett ám chỉ về một “quyền lực mềm” (soft power) của vijigisu trong khi mưu đồ “không phải là sự tiêu diệt các Rajya (vương quốc) khác (điều mà có thể khiến cho mandala không còn tồn tại), mà là sự quy phục và thần phục của chúng đối với danh tiếng của ông ta” (23).

Trong quan hệ giữa các mandala còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng và chi phối, chẳng hạn như những yếu tố ngoại giao, theo đuổi hoà bình qua hiệp ước hoặc các khối đồng minh và một thái độ trung lập. Chiều hướng hành động phụ thuộc vào thực cảnh quyền lực tối cao của vijigisu, bao gồm: Vua, Thượng thư (the Minister), đất nước - tức là “lãnh thổ có thần dân”), pháo đài, ngân khố, quân đội, đồng minh, và kẻ thù (24). 

O.W. Wolters cho rằng “mỗi nhà cai trị đều được tôn vinh trong đất nước của mình như người duy nhất có quyền tối thượng “phổ quát”, bắt nguồn từ quyền lực thần thánh bất khả phân ly và đơn nhất. Bản đồ của Đông Nam Á cổ xưa được suy luận ra từ những mạng lưới của các khu định cư nhỏ thời tiền sử và tự bộc lộ qua thư tịch lịch sử là một mảng chắp vá gồm những mandala thường chồng chéo lên nhau, hay là “sự luân chuyển quyền lực giữa các ông vua” (circles of kings) (25). Trong mỗi mandala như vậy, một ông vua (king) đồng nhất mình với quyền lực thần thánh và tối thượng, khẳng định quyền bá chủ đối với những nhà cai trị khác trong mandala, những người về lý thuyết là những đồng minh và chư hầu biết vâng lời (26). Một ông vua kết hợp với thần thánh theo chiều dọc cũng như qua một lãnh thổ tộc người, đất đai và các nguồn tài nguyên theo chiều ngang được thiết lập dưới hình thức “những chư hầu trung thành” (vassal loyalties). Một “sự thống nhất” như vậy (về mặt tôn giáo và chính trị) bảo vệ vương quốc khỏi những thế lực gây tan rã từ bên trong hay bên ngoài. 

Trên thực tế, mandala (một thuật ngữ Sanskrit được sử dụng trong các văn bản nhà nước của chính quyền Ấn Độ) miêu tả một trạng thái chính trị riêng biệt và thường là không ổn định trong một khu vực địa lý được xác định mơ hồ vì không có những đường ranh giới cố định, tại đó những trung tâm nhỏ hơn vì lý do an ninh nên có xu hướng vươn ra mọi phía (27). Các mandala sẽ mở rộng hay thu hẹp lại theo cách thức này. Theo O.W. Wolters thì mỗi mandala bao gồm một số chính quyền chư hầu (tributary rulers), nhưng mỗi chư hầu như vậy có thể từ bỏ địa vị chư hầu của họ khi có cơ hội và nỗ lực xây dựng một mạng lưới chư hầu của riêng họ (28).           

 Tầm quan trọng của một mandala không phụ thuộc vào chiều rộng về địa lý của nó mà phụ thuộc vào mạng lưới những “kẻ trung thành” (loyalties) mà nó có thể huy động được để cung cấp sức mạnh vũ lực cho kẻ đứng đầu hay “Người dũng cảm” (Man of prowess) (29). Việc huy động những “kẻ trung thành” là đặc trưng nổi bật trong hệ thống chính trị của người Angkor. 

Đôi khi một mandala cũng có thể bao gồm một khu vực địa lý rộng lớn. Các nhà cai trị người Malay của vương triều Srivijaya đã áp đặt được thứ quyền lực nào đó ở Sumatra và bán đảo Malay từ thế kỷ VII đến ít nhất là thế kỷ XI. Các ông vua Angkor trong khoảng thế kỷ XI-XII có quyền lực tương tự ở châu thổ Chao Phraya và bán đảo Malay và cũng gồm một phần hiện nay là miền Nam Việt Nam (vương quốc cổ Chămpa). Majapahit - mandala của người Java trong thế kỷ XIV gồm có Java, phần lớn Sumatra, và các đảo của Indonesia. Trên thực tế, Prapanca đã tuyên bố rằng chính quyền của ông “bảo vệ” hầu hết Đông Nam Á lục địa. Cũng có những bằng chứng gợi ý rằng những mandala tương tự đã từng tồn tại ở Philippines trong suốt thời kỳ tiền thực dân Tây Ban Nha (30).

 Qua nghiên cứu và quan sát các vương quốc cổ đại Đông Nam Á, Giáo sư O.W. Wolters cho rằng, có hai kỹ năng điều hành nhà nước được nhấn mạnh và tuỳ thuộc vào đời sống cộng đồng truyền thống ở nhiều nơi của khu vực Đông Nam Á:

 Thứ nhất, đó là sự tập trung của cái mà ngày nay chúng ta có thể miêu tả là “tình báo chính trị” (political intelligence) hay là cập nhật thông tin về những gì đang xảy ra ở vùng biên của một mandala. Nó là điều quan trọng có ý nghĩa sống còn khi mà những sự đe doạ có thể được dự báo trước. Do vậy mà những việc xảy ra ở vùng biên của mandala cũng có ý nghĩa như ở những trung tâm, và những người cầm quyền duy trì sự liên lạc với những vùng xa xôi mà nhận thức về địa lý có thể dễ dàng vươn tới được (31). Chẳng hạn vào đầu thế kỷ XI, chính quyền của người Angkor đã có liên hệ với chính quyền Tamil ở miền Nam Ấn Độ và chính quyền của người Việt ở Thăng Long. Một trong những bổn phận của Pahang Shahbanda là tìm kiếm thông tin về những gì đang xảy ra ở thế giới bên ngoài. Shahbanda quản lý thương cảng, đã có những tiếp xúc với các thương nhân ngoại quốc và có khả năng tốt để cung cấp những thông tin như vậy.

 Kỹ năng thứ hai đảm bảo cho một chúa tể mandala thành công là kỹ năng về ngoại giao. Ông ta phải có khả năng diệt trừ những đối thủ, buộc họ nằm dưới tầm ảnh hưởng và điều khiển họ trong một mạng lưới trung thành với ông ta, ngay cả khi họ sống ở những khu vực xa xôi (32).

 Người nắm quyền không phải là một kẻ chuyên quyền mà là một người hoà giải có thể duy trì sự bình ổn và huy động những nhóm tách biệt nhau. Ông ta cần phải lôi kéo các thuộc cấp trung thành đối với những vùng phụ cận của ông ta và thoả mãn lòng tự trọng của họ (33).  Một nhà cai trị của một vương quốc Ấn - Phật cổ xưa có thể được xem như là “Quyền lực vũ trụ tập trung và bảo toàn” (34).

Cũng giống như O.W. Wolters khi nói về phẩm chất và vai trò của nhân vật trung tâm - vua, lãnh chúa, nhà nghiên cứu Kautilya cho rằng phẩm chất lãnh đạo của nhà vua giữ vai trò trung tâm đối với các yếu tố khác của quyền lực tối cao (35). Một vị minh vương có thể làm cho những yếu tố nghèo nàn và đáng thất vọng của quyền lực tối cao trở nên thịnh vượng và viên mãn, nhưng một hôn quân chắc chắn sẽ huỷ hoại những yếu tố thịnh vượng và trung thành nhất trong vương quốc của ông ta. Một ông vua sáng suốt, có tài năng về chính trị, thì dù cho ông ta chỉ chiếm giữ một vùng lãnh thổ nhỏ, sẽ chinh phục cả thế giới chỉ với sự trợ giúp của những yếu tố thích hợp nhất của quyền lực tối cao.

Địa vị của ông vua là độc nhất chỉ bởi lẽ đó là địa vị tôn giáo và địa vị tôn giáo độc nhất vô nhị đó của ông ta giúp bù đắp những sự bất lợi đối với việc thiếu vắng (mô hình) quan liêu chuyên nghiệp kiểu Trung Quốc.

Điều chắc chắn là, một ông vua phải được biết tới là người có thanh thế ở chính lãnh địa của ông ta nếu như ông ta muốn gây ảnh hưởng ở các vùng ngoại biên. Những tin tức về sự bất ổn ở vùng trung tâm lan đi nhanh chóng và làm suy giảm tầm ảnh hưởng của ông ta. Thậm chí có thể gợi ra thêm rằng một chính thể ổn định phải cho thấy những dấu hiệu về khả năng mở rộng tầm ảnh hưởng ngày càng rộng. Một ông vua thành công cần phải có một không gian rộng lớn để tỏ rõ uy quyền của mình.

 Loại hình cai trị kiểu mandala có nghĩa rằng những thủ lĩnh chư hầu kế cận với kinh đô cũng như những thủ lĩnh ở các vùng xa xôi được nhà vua đối xử hoà nhã như nhau, để trong trường hợp chiến tranh xảy ra họ sẽ trợ giúp vị chúa tể và không bị nghi ngờ là muốn tìm kiếm “sự bảo vệ” ở những nơi khác. Nhà vua thường phái các quan thanh tra hay những người đại diện lưu động tới các trung tâm thuộc cấp ở những nơi xa xôi của mandala để nhắc nhở các chư hầu về sự hiện diện của ông ta. Mục đích của việc làm đó có thể bao gồm cả sự đề nghị quan hệ liên minh qua hôn nhân, xây dựng hay ban cấp tài vật để xây dựng các đền đài, điều tra các mối bất hoà những sự than phiền, thu thuế và truyền tụng về sự tráng lệ huy hoàng của kinh đô (36).

 Một chính quyền hùng mạnh, theo nghĩa đen, là một chính quyền luôn vận động. Nguồn sức mạnh của chính quyền ấy chính là năng lực và sự sát sao của cá nhân người cầm quyền. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rõ ràng là những khía cạnh tôn giáo cũng đóng vai trò quan trọng trong quyền lực của ông ta (37). 

 Những kẻ cầm quyền có bổn phận phải bảo trợ tất cả các hoạt động thờ phụng và khuyến khích sự nhiệt tâm tôn giáo, và đặc biệt là những sự thực hành khổ hạnh (38). Họ dạy cho các thần dân của mình ý nghĩa của sức mạnh tôn giáo. 





 



13.Boike Rehbein (2005), Configurations of Globalization in Laos and Cambodia. Does Faster Globalization mean Better Development. Tham khảo tài liệu qua website: http://www.cgs.uiuc.edu/resources/conf_seminars_workshops/TS_Rehbein.pdf#search=%22oliver%20wolters%20mandala%22

14.Gesick, Lorraine (1983), 'Introduction', in trong: Lorraine Gesick (ed.) Centres, Symbols, and Hierarchies: Essays on the Classical States of Southeast Asia, Monograph No. 26, New Haven, Connecticut: Yale University Southeast Asia Studies, p. 3.

15.Geertz, Clifford (1980) Negara: The Theatre State in Nineteenth-Century Bali, Princeton: Princeston University Press.

16.Tambiah, S. J. (1976), World Conqueror and World Renouncer: A Study of Buddhism and Polity in Thailand Against a Historical Background, Cambridge: Cambridge University Press.

17.Stuart-Fox, Martin (2000), 'Political Patterns in Southeast Asia', in trong: Colin Mackerras (ed.) Eastern Asia, 3rd edn, Melbourne: Longman Cheshire, p. 83-84.

18.Tambiah (1976), World Conqueror and World Renouncer, Cambridge, ch. 7, cited in Lieberman, 2003, tr.33

19.Lieberman (2003), Victor Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830, Volume 1: Integration on the Mainland, Cambridge University Press, p. 33.

20.Law, Narendra Nath (1985, reprint), Studies in Indian History and Culture, Delhi: B. R. Publishing Corporation. p. 195.

21.Law, Narendra Nath (1985, reprint), Studies in Indian History and Culture, Delhi: B. R. Publishing Corporation. p. 196.

22.Kautilya (1967), Kautilya's Arthasastra, Sđd, p. 293. 

23.I.W. Mabbett  (1978), 'Kingship at Angkor', in trong: Journal of the Siam Society, Vol 66, No. 2, tr. 1-58.

24.Kautilya (1967), Kautilya's Arthasastra,  Sđd, p. .289.

25.O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd, p. 27. 

26.O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd, p. 27.

27.O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd, p. 28.

28.O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd, p. 28.

29.Thuật ngữ của O.W. Wolters sử dụng trong: History, Culture and region … Sđd,  p. 34.

30.O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd, p.  28.

31.O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd,  p.  28.

32.O.W. Wolters  (1999), History, Culture and region … Sđd, p.  29.

33.O.W. Wolters  (1999), History, Culture and region … Sđd, p.  29.

34.O.W. Wolters  (1999), pr.94, trớch Anderson 1972),

35.Kautilya (1967), Kautilya's Arthasastra, Sđd, p. 291.

36. O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd,  p. 30.

37. O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd,  p. 31.

38. O.W. Wolters (1999), History, Culture and region … Sđd,  p. 31

ĐỖ TRƯỜNG GIANG



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
Mandala (phan 3) [07.09.2010 09:23]



NHỚ MẮM
VÌ SAO BAO TÀNG THIẾU SỨC SỐNG
KIẾN TRÚC TRE VIỆT NAM ĐƯỢC VINH DANH TẠI MỸ
QUÊN NGƯỜI
BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỚI QUẢ TIM BẤT DIỆT.
Mắm ruột mà quệt cà giòn...
BIỂN & NỖI NHỚ!
Tản văn cho biển
Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20
TAM QUAN TRONG KIẾN TRÚC VIỆT
Bình thơ: Vua và em - Trần Viết Dũng
Rằm giêng hát bội Phò An
Để “mọi quyền hành, lực lượng đều nơi dân”
"Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"
Người Bình Định và làng Việt tại Pleiku


© Copyright 2007 - 2017 Gosanh.vn 
BẢO TÀNG GỐM CỔ GÒ SÀNH VIJAYA - CHAMPA - BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: khu du lịch Bãi Dại - phường Ghềnh Ráng - T/P Quy Nhơn - Bình Định.
Điện thoại: 84.0913472778 - 84.0946940666. Email: museum@gosanh.vn