TRANG CHỦ
    GỐM CỔ GÒ SÀNH
    BẢO TÀNG GỐM GÒ SÀNH
      - Gốm Thờ Tự
      - Gốm Ngự Dụng
      - Gốm Thương Mại
      - Hoạt động và sự kiện
    TƯ LIỆU VÀ NGHIÊN CỨU
    BÌNH ĐỊNH XƯA VÀ NAY
      - Võ Nghệ
      - Ẩm Thực
      - Văn Học
      - Âm Nhạc
    TỪ TRONG DI SẢN
    ẢNH GOSANH.VN
    VIDEO
    LIÊN KẾT
 Khách Thăm: 001054670
< d>
< d>
< d>
< d>
< d>
 
Tìm hiểu về những đợt thám hiểm của Trịnh Hòa thế kỷ XV
23.08.2010 21:54 - 2841

Khu vực châu Á giai đoạn thế kỷ XV- XVII, là thời kỳ có những biến động lớn về mặt lịch sử, đặc biệt là trong thương mại và quan hệ quốc tế, với sự gia tăng mạnh mẽ các mối liên hệ truyền thống giữa Trung Quốc và các nước khu vực biển Đông Nam Á và khu vực biển Nam Á. Điều đó có liên quan đến chính sách đối ngoại và chính sách thương mại của nhà Minh- Trung Quốc với khu vực và thế giới, nhất là đối với các nước khu vực Đông Nam Á. Và nằm trong những tính toán kỹ lưỡng của nhà Minh mà từ năm 1405 đến 1433, Trịnh Hoà đã thực hiện 7 lần thám hiểm Tây dương với quy mô lớn, đánh dấu bước phát triển mới về quan hệ ngoại giao và thương mại giữa Trung Quốc và Đông Nam Á.


 Những chuyến thám hiểm Tây dương của nhà Minh đầu thế kỷ XV (cùng với chính sách Hải cấm- Haijin) phản ánh tính đặc thù trong quan hệ  Trung Quốc- Đông Nam Á nói chung (quan hệ thiên triều và chư hầu), mậu dịch nói riêng, đặc biệt là “mậu dịch triều cống”. Thêm vào đó, hệ luỵ của mối quan hệ trên đã tác động nên cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á- một trong những hạt nhân thúc đẩy phát triển mậu dịch và bang giao quốc tế trong vùng, trước hết là giữa Trung Quốc và Đông Nam Á.


 Chúng ta đều biết, Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á do gần gũi với nhau về mặt địa lý mà từ rất sớm trong lịch sử Trung Quốc đã mở rộng vùng ảnh hưởng của mình xuống phía Nam bằng nhiều con đường khác nhau kể cả bằng con đường bạo lực lẫn bằng con đường hoà bình. Song, đạt được hiệu quả nhiều hơn cả trong việc mở rộng ảnh hưởng vẫn là qua con đường thương mại do các thương nhân Trung Hoa chi phối. Người Trung Hoa sớm đã có những hiểu biết sâu sắc về khu vực Đông Nam Á. Cho nên, từ lâu trong lịch sử đã có các mối liên hệ mật thiết với nhau bằng các luồng thương mại, tiếp xúc ngoại giao và văn hoá. Ít ra là từ thời Đường, Tống, buôn bán dọc bờ biển các tỉnh Đông- Nam Trung Quốc với các nước Đông Nam Á, với các đảo phía Nam Nhật Bản phát triển khá mạnh mẽ. Từ thời đó đã hình thành lên hai kênh buôn bán, trao đổi hàng hoá: Một là, trao đổi hàng hoá chính thức thông qua các phái đoàn chính phủ với nhau, trong lịch sử gọi là “thương mại cống nạp”; Hai là, kênh “trao đổi buôn bán không chính thức”, thường do các tư nhân làm ăn với nhau, phần lớn nhà nước không kiểm soát được. Đặc biệt, trong thời kỳ thế kỷ XV-XVII, hoạt động thương mại giữa khu vực các tỉnh duyên hải Đông- Nam Trung Quốc với khu vực biển Đông Nam Á phát triển mạnh mẽ qua việc buôn bán hương liệu và con đường “tơ lụa và gốm sứ trên biển”. Từ đó, tạo lên “thời kỳ hoàng kim của thương mại Đông Nam Á 1450- 1680”(1).


 Người phụng mệnh triều đình nhà Minh tiến hành những cuộc thám hiểm Tây dương là hoạn quan Trịnh Hoà. Trịnh Hoà (1371- 1433), vốn họ Mã, người Côn Dương- Vân Nam (nay là Tấn Ninh- Vân Nam), là người theo đạo Hồi, ông có tên Arập là Hadji. Năm 1381, quân đội nhà Minh bình định Vân Nam, Trịnh Hoà bị bắt làm tù binh, rồi phục dịch trong phủ Yến Vương, theo Yến Vương tác chiến lập được đại công thăng chức làm giám trưởng nội quan Thái giám và được ban họ Trịnh gọi là Tam Bảo Thái Giám. Năm 1405, khi Trịnh Hoà phụng chỉ hạ Tây dương, ông khoảng 35 tuổi. Từ nhỏ đã học về Khổng, Mạnh, lại thông hiểu phong tục văn hoá các nước Hồi giáo. Có tài về binh pháp, văn võ song toàn. Hơn nữa, là hoạn quan mà trước khi Minh Thành Tổ tức vị đã sủng ái tin dùng, cho nên là người được lựa chọn thích hợp nhất được lựa chọn cho chương trình thám hiểm của nhà Minh xuống biển Tây(2).


 Trong vòng 28 năm (từ 1405 đến 1433), nhà Minh đã phái cử Trịnh Hoà thực hiện chương trình thám hiểm của mình xuống các nước Đông Nam Á và Nam Á bằng đường biển. Cuộc thám hiểm đầu tiên Trịnh Hoà mang theo 27.800 binh sĩ với 62 chiến thuyền, xuất phát từ cảng Long Giang- Nam Kinh đi xuống các nước Đông Nam Á. Chúng ta xem cụ thể ở bảng thống kê dưới đây 7 lần thám hiểm của Trịnh Hoà:


 



 Với 7 chuyến thám hiểm, tổng cộng đoàn thuyền Trịnh Hoà đã đến hơn 30 quốc gia và vùng khác nhau của cả khu vực biển Đông Nam Á cho đến khu vực biển Nam Á và đến tận bờ Đông của châu Phi. Trong bối cảnh lịch sử đương thời thì Trịnh Hoà đã hoàn thành được nhiệm vụ mà triều đình giao phó.


Xét về mục đích của những chuyến thám hiểm, chúng ta thấy nó vừa mang tính chất chính trị vừa mang tính chất ngoại giao và mang cả tính chất kinh tế và văn hoá. Trung Quốc một mặt muốn bành trướng tạo sự ảnh hưởng về chính trị, khoa trương về văn hoá, thiết lập quan hệ ngoại giao thần thuộc trên quan niệm Hoa- Di, mặt khác cũng muốn vơ vét tài nguyên, tìm kiếm những lợi ích về kinh tế ở những nước này.


 Ngay khi lên ngôi, Minh Thành Tổ (hiệu là Vĩnh Lạc) đã tổ chức một chương trình thám hiểm quy mô bởi “Thành Tổ nghi ngờ Huệ đế lưu vong ở hải ngoại, muốn tìm kiếm tung tích, mà cũng muốn khoe khoang lực lượng quân sự của mình với nước ngoài, chứng tỏ Trung Quốc giàu mạnh”(3). Minh Thành Tổ tự cho mình là phải có sứ mệnh “phụng mệnh thiên hoàng làm vua thiên hạ”, muốn các nước ở hải ngoại phải đến triều cống giống như chủ nghĩa công lợi của các đế vương phong kiến các triều đại trước. Những năm đầu thời Vĩnh Lạc, do sự cường thịnh của đất nước, nhà Minh muốn thiết lập tư tưởng nước lớn thiên triều càng mạnh mẽ hơn. Cá tính của Minh Thành Tổ lại là người thích làm lớn, thích công to, luôn muốn khuyếch trương danh vọng của mình ra bên ngoài.


 Chúng ta biết rằng, hoàng đế Minh Thành Tổ đã thực hiện song song hai con đường bàng trướng xuống phía Nam là thực hiện bảy chuyến thám hiểm Tây dương và tiến hành chiến tranh xâm lược Đại Việt đầy tốn kém trong khoảng 30 năm đầu thế kỷ XV(4), điều này đã phá vỡ chính sách đối ngoại của người sáng lập ra triều Minh là Chu Nguyên Chương. 


Rõ ràng, Minh Thành Tổ cũng nhận thấy rằng kinh nghiệm từ các triều đại trước nếu chỉ khuyếch trương ảnh hưởng của Trung Quốc xuống phía Nam bằng chiến tranh thì không đạt được hiệu quả như mong muốn (tiêu biểu là những lần thất bại của Trung Quốc trong việc xâm lược và đặtt ách thống trị trước ở Đại Việt), cho nên, lần này ngoài việc dùng chiến tranh xâm lược Đại Việt, Minh Thành Tổ đồng thời thực hiện phương cách chiêu dụ bằng những chuyến thám hiểm có mang theo lực lượng quân sự. Những hành động này là làm tăng thêm sự hãnh diện và thanh thế của Minh Thành Tổ, thực hiện chính sách “cận công viễn giao”, nhưng khi sự đe doạ đến an ninh quốc gia của Mông Cổ ở phía Bắc ảnh hưởng trực tiếp đến nền thống trị của nhà Minh đã khiến cho Thành Tổ không còn toàn tâm để thực hiện thám hiểm Tây dương và xâm lược Đại Việt.


Mặt khác, ngân khố quốc gia ngày càng trở nên trống rỗng không còn đủ sức cung ứng lâu dài cho những chi phí khổng lồ của nhà Minh nữa. Nhưng, những cuộc thám hiểm Tây dương vẫn được tiến hành bởi còn liên quan đến việc Minh Thành Tổ chiếm đoạt ngôi vị, và cũng muốn gây ảnh hưởng của mình ra bên ngoài. Thành Tổ muốn ngôi vị của mình được chính thống hoá, và cũng muốn lợi dụng việc này để xoa dịu bộ phận trong nước bất mãn với việc ông ta dùng vũ lực cướp đoạt ngôi vị. Hơn nữa Thành Tổ cũng muốn bằng sức mạnh hải quân để có thể buộc những người đứng đầu của các nước chư hầu công nhận ông ta là vị vua chính thống của Thiên triều(5).


 Trịnh Hoà thám hiểm Tây dương với đội thuyền lớn mạnh và xét từ tính chất hoạt động của nó thì đây không phải là đội thương thuyền bình thường, cũng không phải là đoàn sứ ngoại giao như thông lệ, mà là đội thuyền kiêm cả hai nhiệm vụ quan trọng là ngoại giao và mậu dịch do kẻ thống trị phong kiến tổ chức.


 Một trong những nhiệm vụ đi sứ của Trịnh Hoà chính là kêu gọi các nước xưng thần cống nạp và thiết lập quan hệ bang giao giữa nước lớn và các nước phiên thuộc. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Trịnh Hoà sau khi đã đến các nước việc đầu tiên là tuyên đọc chiếu thư của Minh Thành Tổ. Tuyên dụ các nước: Hoàng đế triều Minh phụng thiên thừa mệnh là phụng ý chí của “thiên mệnh thiên quân” để quản lý thiên hạ, phiên di bốn phương đều phải tuân chiếu làm theo tuyên chỉ của hoàng đế nhà Minh, giữa các nước không thể lấy đông mà ức hiếp nhỏ, lấy mạnh mà xâm phạm yếu, phải cùng hưởng phúc thiên hạ thái bình. Nếu phụng chiếu đến triều cống trước, phép tắc lễ nghĩa chú trọng trong giao thiệp nhất luật ban thưởng hơn.


 Việc thứ hai, là ban tặng lễ vật, ban ấn bạc, cáo mệnh cho quốc vương các nước, ban cho quốc vương và quan lại các cấp quan phục và những lễ vật khác, bày tỏ ý muốn xây dựng và phát triển quan hệ chính trị với những quốc gia này.


 Việc thứ ba, là tiến hành hoạt động thương mại. Đem sản phẩm thủ công nghiệp Trung Quốc đổi lấy những đặc sản địa phương của các nước, khiến cho các nước bị hấp dẫn bởi các sản phẩm thủ công nghiệp vừa hoàn hảo vừa đẹp đẽ, tinh xảo của Trung Quốc, từ đó mà các nước muốn đến Trung Quốc xưng thần cống nạp, tiến hành các hoạt động buôn bán. Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu hàng tơ lụa và gốm sứ, sớm đã nổi tiếng ở các nước Á- Phi. Rất nhiều các quốc gia ở châu Á và châu Phi từ sớm đã muốn phát triển quan hệ mậu dịch với Trung Quốc, nhưng do Chu Nguyên Chương thực hiện chính sách “hải cấm” nên đã hạn chế sự phát triển của loại hình thương mại này. Minh Thành Tổ đã nới lỏng chính sách “hải cấm”, phái Trịnh Hoà đi sứ các nước, biểu hiện rõ ràng Trung Quốc muốn khôi phục mậu dịch bình thường với các nước ở hải ngoại. Các nước ở hải ngoại cũng cho rằng xưng thần cống nạp, tiến hành mậu dịch, thiết lập quan hệ tốt với Trung Quốc là một việc có lợi.


 Những chuyến thám hiểm của Trịnh Hoà đã thúc đẩy những hoạt động thương mại giữa Trung Quốc và Đông Nam Á sang một thời kỳ phát triển mới cao hơn. Từ đây, hoạt động thương mại quan phương và phi quan phương phát triển ngày càng nhọn nhịp hơn. Mỗi một lần hạm đội của Trịnh Hoà đi qua các nước tuyên đọc chiếu thư, ban tặng lễ vật… khi về các nước này đều cho sứ giả của mình đi cùng hạm đội đến thiên triều nhà Minh xưng thần cống nạp lễ vật và tiến hành một số hoạt động buôn bán. Khi quan hệ ngoại giao được thiết lập giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, các thương nhân Trung Quốc và các thương nhân càng có nhiều cơ hội để hiểu về thị trường của nhau, mức độ qua lại giao lưu về kinh tế chắc chắn sẽ tăng mạnh lên. Chính vì vậy, mà thời kỳ này Trung Quốc cùng với việc thiết lập được một mạng lưới các nước chư hầu đông đảo, thì thị trường được mở rộng, hoạt động buôn bán giữa Trung Quốc với các nước được đẩy mạnh hơn bao giờ hết.


 Do thiết lập được quan hệ chính trị giữa nhà Minh và các nước trong khu vực Đông Nam Á và một số nước ở khu vực Ấn Độ Dương đã tạo điều kiện thuận lợi cho thương nhân hai bên tìm hiểu thị trường lẫn nhau, từ đó thúc đẩy cho thương mại được phát triển. Rất nhiều quốc gia ở Á- Phi lần lượt phái cử sứ thần đến Trung Hoa tiến hành “mậu dịch triều cống”. Trên thực tế đây là một loại hình “mậu dịch quan phương”. Triều Minh quy định các nước ba năm một lần cống hay hai năm một lần cống, có rất nhiều nước không chỉ mỗi năm cống một lần, có những nước một năm đến cống vài lần. Chỉ tính riêng trong thời gian Minh Thành Tổ phái cử Trịnh Hoà thám hiểm Tây dương đến các nước ở hải ngoại tổng cộng có 318 phái đoàn sứ thần các nước đến triều cống nhà Minh (không không kể các phái đoàn của Triều Tiên, Nhật Bản và Lưu Cầu), và có 11 quốc vương của 4 nước đến nhà Minh, trong đó có 3 vị đã tạ thế và được an táng ở đây. Có thể nói, Mậu dịch triều cống thời kỳ Vĩnh Lạc (1403- 1424) và Tuyên Đức (1425- 1435) cực kỳ hưng thịnh, và việc Trịnh Hoà thám hiểm Tây dương trên thực tế chính là việc mở rộng hình thức mậu dịch triều cống này(6). 


 Cùng với sự phát triển của loại hình thương mại quan phương, thương mại phi quan phương hay thương mại tư nhân cũng trở lên nhộn nhịp hơn. Việc Vĩnh Lạc cử Trịnh Hoà thám hiểm khu vực Đông Nam Á và Nam Á cũng đồng nghĩa với việc nhà Minh nới lỏng chính sách Hải cấm. Cho nên, những người buôn bán tự do có cơ hội nhiều hơn trong việc buôn bán với khu vực Đông Nam Á. Đoàn thuyền Trịnh Hoà đến một số nước khu vực Đông Nam Á và khơi thông con đường thông thương trên biển(7), lập một số căn cứ quân sự và thương mại quan trọng tạo điều kiện cho các thương nhân Trung Hoa có cơ hội thâm nhập sâu hơn nữa vào khu vực Đông Nam Á. Trái lại, các thương nhân Đông Nam Á thông qua các doàn sứ thần của mình mà biết nhiều hơn đến đất nước Trung Quốc phồn thịnh khiến họ càng muốn đến các thương cảng của Trung Quốc tiến hành mậu dịch, nhưng họ vẫn không thể cạnh tranh nổi với các thương nhân Trung Hoa trong hoạt động thương mại. Các thuyền buôn tư nhân Trung Hoa đến các thương cảng Đông Nam Á ngày càng nhiều và các hoạt động trao đổi hàng hoá giữa Trung Quốc- Đông Nam, Trung Quốc- các nước Đông Bắc Á hay Trung Quốc và các nước Nam Á chủ yếu do các Hoa thương nắm giữ.


 Những năm đầu triều Minh thời kỳ Chu Nguyên Chương, sự thu hẹp của chính sách thương mại trên biển– “chính sách hải cấm” đã ảnh hưởng xấu đối với thương mại nhiều vùng của Indonesia và Malaysia. Minh Thành Tổ sau khi đoạt được vương vị đã thay đổi chính sách này, ông cho phép tư nhân được buôn bán, xoá bỏ sự hạn chế buôn bán hồ tiêu và vàng; mở cửa Trung Quốc, mời gọi người nước ngoài và thương nhân ngoại quốc đến Trung Quốc, Thành Tổ nói với các đại thần của mình: “nay bốn biển một nhà”. Cùng với việc khôi phục được quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Đông Nam Á, hàng hoá được lưu thông một cách rộng rãi, tin tức cũng đổ về Trung Quốc một cách thường xuyên hơn khiến cho Trung Quốc không bị cô lập với thế giới.


 Bảy chuyến thám hiểm của Trịnh Hoà là những nỗ lực mới của nhà Minh nhằm mở rộng buôn bán và thu vét tài nguyên tại các nước Đông Nam Á. Kết quả của những cuộc “thám hiểm” trên đưa đến sự xuất hiện các bộ phận dân cư mới của người Hoa ở khắp các đảo chính của Indonesia như Palembang (thuộc đảo Sumatra), Semarang (thuộc đảo Java),… Mỗi lần các đoàn thám hiểm đổ bộ lên bờ các nước Đông Nam Á, họ dựng cờ Trung Hoa, lập các thương điếm, bắt chính quyền và dân cư bản địa phải nộp cống cho họ(8). Rõ ràng, các chuyến đi đã mở đường “một cách hợp pháp” cho các nhà buôn, di dân cư tự do người Trung Hoa đến những vùng đất mới làm ăn sinh sống(9).


  Lịch sử phát triển Hoa kiều ở Nam Dương hoàn toàn không phải bắt đầu từ thời kỳ thám hiểm Tây dương của Trịnh Hoà. Mà chúng ta biết rằng, do gần gũi nhau về mặt địa lý, lối sống văn hoá, nhân chủng, cấu trúc kinh tế và xã hội truyền thống, nên từ lâu đã xuất hiện các quần thể dân cư người Trung Hoa di trú tại Đông Nam Á. Từ thời kỳ Hán, Nguỵ, Tấn, người Trung Quốc đã có mối quan hệ với khu vực biển Đông. Vào thời kỳ nhà Nguyên, có không ít các di thần nhà Tống và nhân dân vùng duyên hải Đông Nam vì phản đối sự thống trị tàn bạo của nhà Nguyên mà lần lượt chạy đến Nam Dương, trở thành những người khai phá sớm nhất những quần đảo Nam Dương. Do những nguyên nhân này, cho dù họ đã đến những vùng đất nào, số lượng di dân cho đến quy mô kinh doanh của họ đều rất hữu hạn, thêm vào đó họ khó có thể duy trì những quan hệ với Trung Quốc đại lục mang tính thường xuyên được, nguồn nhân lực vật lực đều thiếu. Vì vậy, mà trong việc khai phát Nam Dương không thể tạo nên được những ảnh hưởng gì lớn. Việc Trịnh Hoà thám hiểm khu vực Đông Nam Á và Nam Á đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử giao thông hải ngoại của Trung Quốc, cũng mở ra một thời kỳ mới trong việc người Hoa kiều khai phát Nam Dương. Chương trình thám hiểm của nhà Minh đã khơi thông con đường giao thương trên biển từ Trung Quốc đến các nước Nam Dương, thiết lập được mạng lưới thương mại quan phương và phi quan phương giữa Trung Quốc với các nước hải ngoại, tạo điều kiện mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Hoa kiều ở khu vực Đông Nam Á.


 Những chuyến thám hiểm đến khu vực Đông Nam Á đã chứng tỏ được đây là vùng đất đầy tiềm năng, đã có sức thu hút một lượng lớn di dân Trung Quốc đến đây. Đặc biệt, vào khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, số lượng Hoa kiều ở Đông Nam Á tăng nhanh, phạm vi phân bố rộng, thế lực Hoa kiều ngày càng hùng hậu. Trên cơ sở này, ở Đông Nam Á đã xuất hiện những cộng đồng người Hoa ở các thành phố hải cảng và trung tâm thương mại trong khu vực. Từ thời kỳ này họ không dừng lại ở việc buôn bán và thăm dò môi trường như trước nữa mà họ đã có ý định sinh cư lập nghiệp lâu dài ở các nước sở tại, và họ muốn kiểm soát hoạt động buôn bán trên biển khu vực này mà trước đây từng nằm trong tay người Arập và người Ấn Độ.


Hạt nhân chính cho sự hình thành cộng đồng này là tầng lớp nhà buôn, tiểu thương và thợ thủ công. Hoạt động kinh doanh của họ không chỉ đóng vai trò tích luỹ vốn mà còn kích thích dòng nhập cư mới. Do thiết lập được hệ thống các làng, phố của mình tại các trung tâm buôn bán, hải cảng chính của các nước trong khu vực, nên người Hoa trong những thế kỷ XV- XVI đã thay thế người Arập và Ấn Độ, chiếm vị trí chủ đạo trong nền ngoại thương Đông Nam Á. Cùng với việc khởi sắc buôn bán trên biển của người Nhật Bản, Java, thương mại nhộn nhịp của người Hoa ở thời kỳ đó đã tạo nên sự “Hưng thịnh của hệ thống mậu dịch châu Á” trong khoảng thế kỷ XV- XVII.


Chương trình thám hiểm của nhà Minh (1405- 1433), cùng với việc đưa quân đội xâm lược Đại Việt (1406- 1428), nhà Minh cũng đã tạo được ảnh hưởng rộng xuống phía Nam thông qua thiết lập được mạng lưới chư hầu đông đảo. Qua thất bại việc bành trướng bằng con đường bạo lực trên đất liền, nhà Minh hiểu rằng chỉ có thể mở rộng ảnh hưởng bằng con đường biển và đã thu được hiệu quả tương đối lớn. Các nước Đông Nam Á đều lần lượt phái cử các sứ thần của mình đến Thiên triều để thiết lập quan hệ thần thuộc, chịu sự sách phong của nhà Minh. Từ đó mà việc giao lưu về văn hoá giữa Trung Quốc và khu vực diễn ra mạnh mẽ, chủ yếu là việc chuyển tải văn hoá Trung Hoa xuống phía Nam.  


Mặt khác, từ cuối triều Nguyên, chính quyền Trung Quốc ra sức tìm cách thiết lập hệ thống kiểm soát vùng biển khu vực Đông Nam Á. Đó là nguyên nhân chính dẫn tới chính sách cấm vận hàng hải vào cuối thế kỷ XIV (1371). Từ đó không một thương thuyền nào có thế đến Trung Quốc buôn bán nếu không có giấy phép chính thức của triều đình. Cuộc xuất dương của hạm đội Trịnh Hoà vào đầu thế kỷ XV thực chất cũng vẫn là nhằm kiểm soát tất cả những hoạt động thương mại với Trung Quốc và thiết lập độc quyền kiểm soát trên khu vực biển Đông Nam Á của nhà Minh. Hạm đội Trịnh Hoà đã tấn công Majapahit, chinh phục Palembang để hỗ trợ người Hoa và các lực lượng thân nhà Minh là người bản xứ. Đồng thời những hoạt động của Trịnh Hoà còn nhằm đe doạ Ayuthaya, buộc họ phải lui khỏi vùng eo. Cũng trong thời gian đó, bộ binh của nhà Minh đã tấn công xâm lược Đại Việt, một quốc gia đang lớn mạnh có xu hướng chuyển từ vị trí một trung tâm liên vùng thành một trung tâm liên thế giới khi lãnh thổ được mở rộng về phía nam. Trong thời điểm ấy, phần còn lại của Champa và Melaka đã bị biến thành căn cứ hải quân của Trung Quốc. Melaka vừa thoát khỏi nguy cơ đe doạ của Ayuthaya và Majapahit, nhờ sự can thiệp của Trung Quốc đã giành lại được các khả năng khống chế các tiểu quốc vùng Eo, tạo ra những trung tâm kiểu mới ở Đông Nam Á với chức năng trung chuyển giữa vùng Đông Bắc và Tây Nam trên tuyến hàng hải gió mùa(10).


 Những chuyến thám hiểm Tây dương của Trịnh Hoà là hành động đáng được lịch sử ghi nhận và nó là một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhà Minh. Những chuyến thám hiểm cùng với những nỗ lực thuyết phục những người trị vì ở các nước hải ngoại phái cử các phái đoàn triều cống đến Trung Quốc là một trong những nhiệm vụ chính mà đoàn thám hiểm Trịnh Hoà phải thực hiện được. Nhà Minh hiểu rõ rằng trên hết các phái đoàn triều cống này sẽ không đến Trung Hoa nếu không được lợi ích gì. Cho nên, trong khoảng hai thập kỷ đầu thế kỷ XV hàng loạt các phái đoàn triều cống từ các nước của các vùng khác nhau đã lần lượt đến Trung Hoa bởi sự hào phóng của kẻ bề trên và sự hấp dẫn của những món quà được ban thưởng từ Thiên triều. Chính điều ấy cộng thêm với cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt kéo dài mà không thu được lợi nhuận gì trái lại phải chuốc lấy thất bại, cùng với những chi phí mà triều đình nhà Minh phải chi trả cho các phái đoàn triều cống các nước khi đến Trung Quốc trở về, thêm vào đó, triều đình lại phải chi phí cho việc phòng thủ chống đỡ các thế lực biên giới phía Bắc (Mông Cổ) như việc xây dựng lực lượng quân sự mạnh, xây vạn lý trường thành, xây dựng thành quách, cung điện ở Bắc Kinh đã làm cho ngân sách của nhà Minh không đủ sức cung ứng(11). Đây có thể coi là một sự thất bại về kinh tế của nhà Minh.


 Có thể nói rằng, những cuộc thám hiểm của Trịnh Hoà đến các khu vực Đông Nam Á và Nam Á là một “cuộc tổng điều tra về khu cực Đông Nam Á và Nam Á” của nhà Minh(12). Một mặt, thể hiện được sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự của nhà Minh, thể hiện được sự phồn thịnh của nền văn minh Trung Hoa, mở rộng được vùng ảnh hưởng cho Trung Quốc với mạng lưới các nước chu hầu đông đảo. Mặt khác, nó cũng mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ phát triển đỉnh cao của thương mại Trung Quốc (bao gồm thương mại quan phương và thương mại phi quan phương), hoạt động trao đổi thương mại khu vực biển Đông Nam Á hoạt động sôi nổi hơn. Và một hệ luỵ quan trọng hơn, đó là tạo điều kiện và thúc đẩy sự di cư của người Hoa ra hải ngoại nhiều hơn với tư cách là những cộng đồng dân cư ổn định trong cơ cấu đa nguyên của các quốc gia Đông Nam Á. Các Hoa thương tập trung chủ yếu ở những trung tâm thương mại đầu mối và ở các cảng thị thương mại. Chính vì vậy, thương nhân Hoa kiều là một trong những nhân tố chính tạo lên sự ra đời và hưng thịnh của một số thương cảng quan trọng ở Đông Nam Á.


 Sự bành trướng bằng đường biển của nhà Minh qua những chuyến thám hiểm của Trịnh Hoà đã tạo ra được khu vực ảnh hưởng rộng lớn xuống phía Nam, sức mạnh thiên triều được củng cố, Trung Quốc đạt được mục tiêu về chính trị. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã tạo dựng được cho mình một thị trường thương mại vững chắc, qua đó có thể tiêu thụ được một số hàng hoá của mình, mà cũng là nơi cung cấp một số mặt hàng quan trọng cho Trung Quốc. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc mở ra một thời kỳ “phát triển đỉnh cao thương mại của nhà Minh”.



 


Chú thích:

(1). Theo Anthony Reid: Southeast Asia in the Age of Commerce 1450- 1680, Yale University Press, 1988.

(2)(3). Minh sử- Trịnh Hoà truyện

(4). Chúng ta đều biết vào năm 1406, với danh nghĩa phù Trần diệt Hồ mà nhà Minh đã kéo quân xuống xâm lược nước ta, đặt ách thống trị 20 năm gây bao tổn thất về người, của và các giá trị văn hoá cho nhân dân Đai Việt. Nhưng, cuộc khởi nghĩa Lê lợi (1418- 1427) đã đánh đuối quân Minh về nước giành lại độc lập cho Đại Việt.

(5). Xem Wang Gung Wu: China and the Chinese Oversea, Times Academic Press 1991, p58-59.

(6). Thang Cương (cb): Trung Quốc thông sử, quyển 8, tr 391.

(7).Việc Trịnh Hoà sử dụng quân sự tiêu diệt đám hải tặc Trần Tổ năm 1407 ở Malacca và phủ dụ những thế lực ở bản địa không theo nhà Minh như ở Ceylan (1411) và Sumatra (1413).

(8). Trần Khánh: Vai trò người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á, HN, 1992, tr32.

(9). Trần Khánh: Tiếp xúc hội nhập kinh tế Đông Á- Đông Nam Á ven biển dưới góc nhìn lịch sử, trong cuốn Đông Á- Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện tại. Nxb Thế giới, năm 2004, tr93.

(10).Sakurai Yumio: Thử phác dựng cấu trúc lịch sử của khu vực Đông Nam Á- Tthông qua mối liên hệ giữa biển và lục địa. Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4- 1996, tr49.

(11). Xem Wang Gung Wu: China and the Chinese Oversea, Times Academi Press, 1991, p59,60.

(12). Trong quá trình vượt biển, mỗi lần đi qua địa phương nào, Trịnh Hoà đều ghi chép tỉ mỉ hành trình tren biển đó chính là “Trịnh Hoà hàng hải đồ”, trong bản đồ này ghi rõ ràng ghi rõ ràng, tỉ mỉ hướng đi trên biển, cự li củ tuyến đi biển, nơi đậu và cả đá ngầm, bãi cát nguy hiểm, hướng gió, khí hậu trên biển và thuỷ triều,…Bên cạnh đó, Mã Hoan với tác phẩm “Danh Nhai tháng lãm”, Phỉ Tín với tác phẩm “Tinh tha thắng lãm”, Củng Tân với “Tây Dương phiên quốc chí” ghi lại tình hình các nước mà họ đã dặt chan tới, ta hiểu hơn về các mặt đời sống phong tục, tập quán, sản xuất, và những đặc sản của các nước bản địa Á- Phi, v.v.


 

Dương Văn Huy (Theo Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 2-2006)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
Mandala (phan 3) [07.09.2010 09:23]



NHỚ MẮM
VÌ SAO BAO TÀNG THIẾU SỨC SỐNG
KIẾN TRÚC TRE VIỆT NAM ĐƯỢC VINH DANH TẠI MỸ
QUÊN NGƯỜI
BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỚI QUẢ TIM BẤT DIỆT.
Mắm ruột mà quệt cà giòn...
BIỂN & NỖI NHỚ!
Tản văn cho biển
Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20
TAM QUAN TRONG KIẾN TRÚC VIỆT
Bình thơ: Vua và em - Trần Viết Dũng
Rằm giêng hát bội Phò An
Để “mọi quyền hành, lực lượng đều nơi dân”
"Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"
Người Bình Định và làng Việt tại Pleiku


© Copyright 2007 - 2017 Gosanh.vn 
BẢO TÀNG GỐM CỔ GÒ SÀNH VIJAYA - CHAMPA - BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: khu du lịch Bãi Dại - phường Ghềnh Ráng - T/P Quy Nhơn - Bình Định.
Điện thoại: 84.0913472778 - 84.0946940666. Email: museum@gosanh.vn