TRANG CHỦ
    GỐM CỔ GÒ SÀNH
    BẢO TÀNG GỐM GÒ SÀNH
      - Gốm Thờ Tự
      - Gốm Ngự Dụng
      - Gốm Thương Mại
      - Hoạt động và sự kiện
    TƯ LIỆU VÀ NGHIÊN CỨU
    BÌNH ĐỊNH XƯA VÀ NAY
      - Võ Nghệ
      - Ẩm Thực
      - Văn Học
      - Âm Nhạc
    TỪ TRONG DI SẢN
    ẢNH GOSANH.VN
    VIDEO
    LIÊN KẾT
 Khách Thăm: 001065943
< d>
< d>
< d>
< d>
< d>
 
Tìm hiểu về lịch sử hải thương Campa (thế kỷ X-XV)
21.08.2010 11:00 - 2035

Người Chăm “có cái nhìn về biển đúng đắn, biết tham dự và dấn thân tích cực vào luồng thương mại quốc tế “, tận dụng những lợi thế đó để phát triển vương quốc của mình thành một cường quốc trong khu vực. Hoạt động thương mại biển đã góp phần quan trọng vào quá trình tồn tại và phát triển của vương quốc Champa trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ X đến thế kỷ XV.


 Người Chăm trong lịch sử sớm có cái nhìn về biển đúng đắn và cũng đã sớm chủ động dự nhập mạnh mẽ vào dòng chảy của nền hải thương khu vực. Trước thời kỳ Vijaya, Champa đã từng có những thời kỳ phát triển mang tính trội vượt từ thế kỷ VII-X, các thương cảng ven bờ biển của Champa đã ngày càng trở nên quen thuộc với hải trình của các đoàn tàu buôn trên biển, các thương cảng của Champa như Cù Lao Chàm, Panduranga đã sớm trở thành những trạm trung chuyển (Entrepôt) tương đối thịnh đạt . Việc Cù Lao Chàm đánh mất vị thế của mình, cũng như việc Thi Nại (Sri Boney) nổi lên như một trong những thương cảng chính của Champa, một mặt là do những áp lực về chính trị ngày càng mạnh mẽ từ người láng giềng Đại Việt ở phía Bắc, nhưng mặt khác cũng cho thấy những sự thay đổi của hải trình thương mại trên biển giữa Trung Quốc với các trung tâm thương mại khác.Việc kinh đô Champa chuyển rời về vùng Vijaya, diễn ra gần như đồng thời với những thách thức mới đang đặt ra cho vương quốc Champa, đó là sự trỗi dậy của hai người láng giềng Đại Việt ở phía Bắc và Chân Lạp ở phía Nam.


 Qua khảo sát thực địa, một số nhà nghiên cứu cho rằng niên đại của thành Thị Nại và cảng Thị Nại  được xây cất sớm nhất là vào năm 803, muộn nhất là vào năm 1000, khi người Chăm dời vào đóng đô ở Đồ Bàn thì đã có thành này rồi, và được tồn tại đến thế kỷ XV với 31 tên gọi khác nhau (Đinh Bá Hoà, 1986). Sách Kinh thế đại điển tự lục, một thư tịch cổ của Trung Quốc đã chép về Thi Nại như sau: "Cửa cảng phía bắc liền với biển, bên cạnh có 5 cảng nhỏ thông với Đại Châu của nước ấy, phía đông nam có núi ngăn, phía tây có thành gỗ". Học giả Manguin khi tìm hiểu về các cảng thị trên bờ biển Việt Nam cho rằng: "ở bờ biển Việt Nam, Quy Nhơn (vịnh Thi Nại) là vịnh được cấu tạo cho việc trú ẩn của tàu thuyền tốt nhất. Ở đó được thiết lập cảng của kinh đô Vijaya- Thi Nại chính trong sách Sử ký viết là "thương cảng thứ nhất của Champa". Ở đó còn có Tân Châu (Sin Tcheou) - cảng của những nhà du hành Trung Quốc vào thế kỷ XV" 


 Với vị trí tự nhiên thuận lợi, nằm ở cửa ngõ của một vùng đồng bằng trù phú, có vị thế vươn ra biển, nên chắc chắn Thi Nại đã sớm trở thành thương cảng của vùng Vijaya. Thương cảng này đặc biệt sống động và phát triển nhộn nhịp sau khi Vijaya trở thành đô thành của vương quốc Champa . Toàn thư cũng ghi chép lại sự nhộn nhịp của thương cảng này: “thuyền buôn các nơi tụ họp ở đây... chỗ này người buôn bán tụ họp phức tạp, lại là chỗ bến tầu” . Như vậy, Cùng với sự hội nhập của cả vương quốc vào mạng lưới của nền hải thương khu vực, Thi Nại đã nắm giữ vị thế là thương cảng số một, quan trọng nhất của vương quốc Champa.


 Có một điều gần như chắc chắn rằng, Thi Nại không phải là thương cảng duy nhất trên lãnh thổ của vương quốc Champa, mà đó chỉ là một thương cảng chính, nắm vai trò là trung tâm xuất - nhập khẩu hàng hoá lớn nhất của Champa. Và để Thi Nại có thể tồn tại được như một "thương cảng thứ nhất", các vương triều Champa ở Vijaya cũng đã phải dày công kiến lập một hệ thống các thương cảng phụ/nhánh nắm vai trò là những trung tâm thu gom, chuyển vận hàng hoá từ các vùng, sau đó tập trung về Thi Nại, rồi mới tiếp tục được trao đổi, buôn bán với các thương nhân nước ngoài. Một số nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về lịch sử Champa đều chỉ ra rằng, trong mỗi một vùng/tiểu quốc (hay mandala) của Champa đều có ít nhất một thương cảng nằm ở vùng cửa sông . Với ý nghĩa đó, ngoài cảng Thi Nại ở Vijaya ra, cảng Panduranga cũng là nơi thường xuyên có hoạt động buôn bán - vốn được ghi nhận là một trong những cảng chính trên bờ biển Champa từ thế kỷ VIII về sau. Năm 758, thư tịch cổ Trung Quốc cho biết người Chăm đã phát triển những trung tâm thương mại ở Kauthara (Nha Trang) và Panduranga (Phan Rang). Những ghi chép trong 2 tấm bia cổ ở Panduranga (PhanRang) các năm 1029 và 1035 còn cho biết thêm rằng ở đây đã thu hút rất nhiều thương nhân ngoại quốc, đặc biệt là cộng đồng Hồi giáo . Những người Hồi giáo là người quản lý khu vực buôn bán này. 


 Những nhóm thương nhân này từ sớm đã có những mối liên hệ qua lại thường xuyên với các quốc vương Champa. Đặc biệt, họ đã có một vai trò quan trọng trong việc nắm giữ vị trí trung gian trong quan hệ giữa vương quốc Champa với triều đình Trung Hoa. Trong một phái đoàn triều cống của Champa gửi tới Trung Quốc vào năm 958, người đại diện của vua Champa là một người Hồi giáo có tên là Abu Hasan (P'u Ho- san). Năm 961, Abu Hasan trở lại Trung Quốc và mang theo lá thư của một ông vua Chăm mới là Jaya Indravarman I cùng với vật phẩm gửi tới triều đình Trung Hoa là gỗ thơm, ngà voi…và 20 bình A Rập, tất cả những sản phẩm này được lấy từ sản phẩm thương mại được diễn ra ở các thương cảng của vương quốc Champa. Từ những cứ liệu lịch sử này, chúng ta có thể thấy rằng, Champa đã rất cố gắng, và tích cực dự nhập vào con đường thương mại của khu vực, họ đã chủ động liên kết với những thương nhân A Rập năng động đang hoạt động rộng khắp trên vùng biển Đông Nam Á để thực hiện tham vọng của mình. 


 Khoảng những năm 1318 đến 1324, dưới thời trị vì của vua Chế Ana (một trong những người con của Chế Mân), tu sĩ dòng Phanxico là Odoride Bordenone đã từng ghé thăm Champa và ghi lại những nhận xét: “Có một tiểu quốc gọi là Champa-một xứ sở rất đẹp, đời sống ở đó rất dễ dàng và sung sướng. Vị vua hiện làm vua lúc tôi ghé đó có tới 200 đứa con vừa trai vừa gái vì ông ta có nhiều vợ và cung tần. Ông ta có tới 11.000 con voi của riêng do tôi tớ trong thành nuôi lấy. Ăn uống ở đây thì thoả thích lắm vì tất cả các loại cá bể đều có. Bể chỉ có cá và cá mà thôi, mỗi năm mỗi mùa là một thứ cá. Nếu có ai hỏi tại sao như vậy thì dân ở đó nói rằng đó là lần lượt các loại cá về chầu Vua...” Chắc hẳn rằng Odoride Dordenone đã tận mắt chứng kiến một thời kỳ thịnh vượng của vương quốc Champa.


 Để chủ động dự nhập vào con đường thương mại của khu vực, thì ngoài việc xây dựng một thương cảng Thi Nại phồn vinh ở ngay khu vực đô thành, các vua Champa cũng đã ý thức được việc phải tiến chiếm các thương cảng khác ở phía Bắc và phía Nam, hoặc chí ít thì cũng làm suy giảm vị thế của các thương cảng này, nhằm ngăn chặn sự đe doạ của chúng tới các thương cảng của Champa. Năm 1050, Jaya Paramesvaravarman đã phái cháu mình đi chinh phục xứ Panduranga ở phía Nam. Đó có thể hiểu là một hành động hướng tới việc thu nạp một cảng thị  vốn đã phồn vinh từ trước đó vài thế kỷ - thương cảng ở vùng Panduranga (Phan Rang). Sau khi tiến chiếm và bình ổn được khu vực phía Nam, Champa bắt đầu hướng các cuộc tiến công của mình xa hơn về phía Bắc tới vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh của Đại Việt, cũng như là các cuộc tấn công sang các cảng thị của Chân Lạp.


 Trong quan hệ với quốc gia láng giềng ở phía Bắc là Đại Việt, Champa cũng đã thường xuyên gửi các đồ tiến cống chính thức đến triều đình Đại Việt. Qua thống kê từ Đại Việt sử ký Toàn thư và Đại Việt sử lược thì, trong thời Tiền Lê (980-1009) và thời Lý (1009-1225), trong số các quốc gia gửi đồ tiến cống tới các triều đình Việt Nam thì Champa có số lượng nhiều hơn cả: Champa 55 lần, Chân Lạp 19 lần, Ngưu Hống 2 lần… Các phái đoàn triều cống tới triều đình Đại Việt, trước hết không nằm ngoài mục đích thiết lập các mối quan hệ ngoại giao. Nhưng bên cạnh ấy thì sự giao hảo này, cũng giống như các phái đoàn triều cống sang Trung Hoa chắc hẳn đã đóng một vai trò quan trọng đối với mạng lưới buôn bán trong khu vực. Trong mối quan hệ này, Champa và Đại Việt đã có thể trao đổi với nhau những sản phẩm có giá trị. Chẳng hạn như, thương nhân Đại Việt có thể đã nhập và mang trầm hương của Champa tới những chợ ở Trung Quốc để buôn bán và ngược lại các thương nhân Đại Việt mang ngựa từ Vân Nam, một phần qua Quảng Tây, để bán ở Champa.


 Trầm hương của Champa từ rất lâu, đã nổi tiếng trên thị trường quốc tế như là một trong những món háng quý hiếm. Lê Quý Đôn đã ghi chép lại về sản vật này như sau: "Kỳ lam hương xuất tự đầu núi các xã thuộc hai phủ Bình Khang và Diên Khánh xứ Quảng Nam là thứ tốt nhất; xuất tự Phú Yên - Quy Nhơn là thứ hai... Trầm hương sản xuất không phải ở một nơi, ở Chân Lạp là tốt nhất, ở Chiêm Thành thứ nhì, ở Bốt-nê kém nhất " .


 Các sử gia của Việt Nam thường đề cập đến Vân Đồn, một thương cảng ở vùng Đông Bắc, như là thương cảng chính của Đại Việt, đặc biệt là từ thời Lý (1009-1225) . Trong khi đó, Whimore đã gợi ý rằng Nghệ - Tĩnh có thể đã là một điểm hội nhập thiết yếu của Campuchia ra khu vực biển Đông (đặc biệt là từ miền phía bắc thuộc Lào và Thái Lan ngày nay), thương nhân Trung Quốc phải đến Nghệ - Tĩnh buôn bán không chỉ với Đại Việt mà còn cả với Champa, Campuchia. Điều này có thể sẽ là hợp lý và chúng ta có thể giải thích vì sao các vua Khmer cử phái bộ sang Đại Việt thường xuyên hơn (19 lần) là đến nhà Tống (5 lần) . Ngày nay, vùng Nghệ - Tĩnh được ghi nhận là khu vực nóng nực, khí hậu mùa hè khô hanh và lụt lội thường xuyên diễn ra vào mùa thu khiến cho sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Nhưng trong thời Đại Việt, đây vốn là một khu vực buôn bán giàu có nơi người Chăm, người Hoa, người Khmer thường tụ hội về. Tuyến buôn bán trong thế kỷ VIII của nhà Đường thường băng qua dãy Trường Sơn đến Lục Chân Lạp đều được bắt đầu từ Nghệ Tĩnh, và K.Hall (1985) đã chỉ ra rằng tuyến đường này đã tạo nên một sự đe doạ nghiêm trọng tới sự phát triển của nền hải thương Champa, đặc biệt là đe doạ vị thế của các cảng thị ven biển của Champa .


 Năm 1128, Suryavarman II- một ông vua hùng mạnh và đầy tham vọng của Chân Lạp đã 2 lần đem quân sang tấn công vào châu Nghệ An. Năm 1131, Chân Lạp còn lôi kéo cả Champa đem quân đánh vào Nghệ An. Sau nhiều lần thất bại trong âm mưu đánh chiếm các thương cảng vùng Nghệ - Tĩnh ở phía Nam Đại Việt, Chân Lạp quay sang tấn công Champa (1145) mà nguyên nhân có lẽ không nằm ngoài tham vọng chiếm cứ các thương cảng của Champa, tìm kiếm cửa ngõ thông ra biển Đông để dự nhập vào con đường thương mại trên biển của khu vực, cũng như là tìm kiếm con đường giao thương trực tiếp với thị trường Trung Hoa ở phía Bắc. Cùng với Chân Lạp, Đại Việt, Sri Vijaya và trước thế kỷ X là Java thường xuyên mở những cuộc tấn công, đột kích vào các thương cảng của Champa ở Kauthara, Panduranga… Điều ấy, mang đến cho chúng ta một gợi ý rằng, các thương cảng của Champa đã có một sức hấp dẫn như thế nào, và nó đã trở thành sự thèm khát của những người láng giềng.


 Cùng với việc duy trì những mối quan hệ khi hoà hiếu, khi căng thẳng với hai quốc gia láng giềng là Đại Việt và Chân Lạp, thì Champa cũng đã có những mối quan hệ, đặc biệt là về thương mại với các vương quốc khác trong khu vực. Biên niên sử Trung Quốc từ thời kỳ Bắc Tống (960-1127) cũng đã chỉ ra rằng vào cuối thế kỷ X, đã hình thành những tuyến đường biển nối liền những địa điểm cư trú vùng biển ở quần đảo Philippinese, bờ biển Bắc của Đảo Borneo và Champa. Tống sử cho biết rằng vào năm 977, nhà cầm quyền Brunei đã gửi quà biếu đến đế chế Trung Hoa và sứ giả của phái đoàn thông báo với triều đình của đế chế rằng May-i (đảo Midoro) cách Borneo một khoảng 30 ngày đi bằng thuyền. Năm 1003, phái đoàn được ghi lại sớm nhất mang quà biếu của Philippinese đi đến Trung Quốc từ Butuan. Tống sử đã mô tả chính thể này ở đông bắc Mindanao như là “một đất nước nhỏ trong biển ở phía Đông của Champa, xa hơn May-i, có quan hệ thường xuyên với Champa nhưng rất hiếm khi với Trung Quốc. Nhiều thế kỷ sau, hàng hoá thương mại được chuyên chở từ miền Trung Việt Nam dọc theo tuyến phía Bắc của Borneo như được chứng minh bởi lô hàng trên con tàu Pandanan đắm ngoài đảo Palawan, ở phía Tây Nam Philippinese .


 Chúng ta không tìm ra được những bằng chứng về mối quan hệ trực tiếp giữa Philippinese và Trung Quốc ít ra cho đến đầu nhà Minh, nhưng với Champa thì thường xuyên và khá độc đáo. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, dường như Champa đã đóng vai trò độc quyền  trong quan hệ với Philippinese  một thời gian dài (từ trước thế kỷ X đến thế kỷ XIII). Do đó, thương mại và cống nạp của Philippinese đến được Trung Quốc là thông qua Champa. “Con đường của đồ gốm thương mại Quảng Đông có lẽ từ Trung Quốc tới Champa và rồi tới Butuan” . Champa đóng vai trò trung gian là trạm trung chuyển đồ gốm giữa Trung Quốc với những miền định cư ở rìa phía Đông của biển Nam Trung Quốc như May-i, đảo Borneo và Butuan. Wiliam Scott cũng đã đưa ra những cứ liệu lịch sử để minh chứng cho nhận xét của  Peter Burns và Roxana, trên cơ sở những ghi chép của Tống Sử: “Đoàn triều cống đầu tiên đến Trung Quốc dường như đi từ Butuan ngày 17-3-1001”. Năm 1007, Butuan thỉnh cầu với Hoàng đế Trung Hoa để được nhận một vị trí tương tự như Champa, nhưng lời thỉnh cầu bị từ chối với lý do là Butuan ở dưới trướng Champa. Chỉ vào khoảng thế kỷ XIII thì con đường liên hệ trực tiếp giữa Luzon và Fujian mới trở nên phổ biến, trước đó tất cả những việc buôn bán với Trung Quốc đều đi bằng con đường của Champa . Nhiều khả năng, những con thuyền chạy trên vùng biển Butuan-Champa là thuyền của Champa, bởi vì trong thời kỳ này, nghề đóng thuyền và đi biển của Champa đã tương đối phát triển và thuỷ thủ Champa là những người dày dạn kinh nghiệm. Champa đã tận dụng vị trí trung gian của mình để nắm giữ vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối giữa vùng quần đảo Philippinese với thị trường Trung Quốc.


 Nhiều nguồn tư liệu cổ cho chúng ta biết về một nguồn hàng hoá quan trọng của Champa là vàng. Trong "Phủ biên tạp luc", Lê Quý Đôn đã cho chúng ta biết về điều này: "xứ Quảng Nam, các núi Trà-nô, Trà-tế nguồn Thu Bồn huyện Duy Xuyên phủ Thăng Hoa sản vàng, năm xưa khí vàng phát mạnh, thường đi một lối ngoằn ngèo từ trong đất, khi bốc lên cũng có lúc đi thẳng, có lúc đi ngang suốt qua núi khác" , "đạo Trà-nô thì sông nhiều vàng, núi ít vàng, đạo Trà Tế núi nhiều vàng, sông ít vàng"; ngoài ra, Lê Quý Đôn còn nhắc tới những mỏ vàng khác với những tên gọi như "nguồn ở Chiên Đàn" "nguồn Ô - da" "nguồn Phù - âu"… Tuy nhiên, đó chưa phải là những nguồn vàng duy nhất của người Chăm trong lịch sử. Một nguồn hàng bí mật mà người Chăm thu mua từ Butuan (Philippinese) suốt nhiều thế kỷ mà các thương nhân Trung Hoa không hề hay biết đó là vàng. Những cuộc khai quật ở Butuan đưa ra được những bằng chứng về việc sản xuất vàng trên quy mô lớn, cả vàng thường và vàng thau, đã cho chúng ta thấy Champa đã chiếm được một nguồn vàng “bí mật” mà Trung Quốc không biết tới. Những mối liên hệ và quan hệ thương mại giữa Champa và Butuan chắc chắn đã có trước sự xụp đổ của Trà Kiệu và khá phát triển ít nhất là từ thế kỷ XI .


 Champa cũng đã duy trì một mối quan hệ khá thường xuyên và mật thiết với các vương quốc biển ở vùng Nam Dương như Srivijaya và Java. Một bia Chăm  niên đại năm 908-911 (Bia Nhan Biều) đã cho chúng ta biết về hai phái đoàn ngoại giao chính thức được gửi tới Java (Yavadvipa) bởi một ông vua nổi tiếng của Champa là Jaya Simhavarman. Một bia ký Java thời kỳ này cũng đã cho thấy sự liên quan tới hoạt động thương mại của thương nhân Khmer và Chăm ở Java.Mối liên hệ này của Java với Champa, như K.Hall đã chỉ ra rằng đó là do các thương nhân và thuỷ thủ Malay đã bị hấp dẫn bởi các thương cảng Chăm, đặc biệt là Panduranga. 


 


MỘT SỐ NHẬN XÉT


 Nằm ở vị quan trọng trên con đường giao lưu quốc tế đông tây, giữa Trung Quốc với Ấn Độ và xa hơn, tới Địa Trung Hải, Đông Nam Á sớm trở thành một đầu mối mậu dịch hàng hải quốc tế. Từ đầu công nguyên, những con thuyền của cư dân trong vùng, thuyền của người Ấn, người Hoa cùng với nền văn hoá của họ đã thường xuyên qua lại vùng Đông Nam Á. Trên con đường giao lưu đó, Champa chiếm lĩnh một trong những vị trí quan trọng và thuận lợi nhất. Các cảng của Champa đóng vai trò như những cảng cuối cùng trước khi những con thuyền vượt qua vịnh Bắc Bộ vào vùng biển Trung Hoa, và là nơi dừng chân đầu tiên khi từ Trung Quốc đến Malacca, vịnh Thái Lan hay gần hơn là tới vùng hạ lưu châu thổ sông Mê Kông mà 7 thế kỷ đầu công nguyên thuộc vương quốc Phù Nam. Có thể thấy, hầu hết các tuyến đường biển đến Trung Hoa hay từ Trung Hoa đi qua Ấn Độ đều rẽ qua các cảng biển Champa. Từ một đầu mối giao thông quan trọng, bờ biển Champa đã sớm trở thành một đầu mối giao thương, nơi trao đổi sản vật và sản phẩm với những thuyền bè qua lại.


 Cũng như phần lớn các quốc gia Đông Nam Á khác trong lịch sử, Champa đã chủ động dự nhập mạnh mẽ vào hệ thống thương mại khu vực để bù lấp những thiếu hụt của nền kinh tế nước mình, biến tiềm năng kinh tế bên ngoài thành bộ phận kinh tế quan trọng của mình. Có thể thấy rằng Champa có những mặt hàng có giá trị, đáp ứng được nhu cầu của các thị trường Trung Quốc và Tây Á. Champa với các thế mạnh của mình về vị trí địa lý, cũng như về các mặt hàng thương mại có giá trị, không những đã trở thành một trạm trung chuyển hàng hoá (Entrepôt) cho các thị trường lớn trên thế giới, mà còn là một nguồn cung cấp hàng hoá quan trọng cho nền thương mại khu vực và thế giới. 


 Hoạt động thương mại thực sự trở thành một thế mạnh và là nền tảng cho nền kinh tế Champa. Với việc khai thác tối đa những nguồn lợi vốn là thế mạnh của mình, cùng với việc dự nhập mạnh mẽ vào luồng thương mại khu vực và quốc tế, Champa trong một thời gian dài trở thành một cường quốc thương mại trong khu vực, đóng vai trò là một trung tâm liên vùng - trung tâm thu gom và phân phối hàng hoá với chức năng trung chuyển giữa trung tâm liên thế giới với các vùng.


 Tuy nhiên, Sự thịnh vượng của tất cả các quốc gia thương nghiệp ở Đông Nam Á -trong đó có vương quốc Champa có mối liên hệ mật thiết với các sự kiện diễn ra ở hai thị trường chính của chúng là Ấn Độ và Trung Quốc. Khi những thị trường này hoà bình và kinh tế phát đạt (như thế kỷ IX-X) thì nền kinh tế của các vương quốc Đông Nam Á mạnh mẽ và họ có thể củng cố vị thế chính trị của họ; nhưng khi thương mại quốc tế bị đình trệ thì kéo theo sự suy tàn của nhiều vương quốc vốn chỉ phát triển dựa vào thương nghiệp. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, Champa - cũng như hầu hết các vương quốc "hướng biển" ở Đông Nam Á thường chỉ nắm giữ vai trò trung gian trong hệ thống thương mại quốc tế, và đó là một trong những hạn chế lớn của các vương quốc này.



 


 1. Tham khảo: Hoàng Anh Tuấn, Cù Lao Chàm và hoạt động thương mại ở biển Đông thời vương quốc Champa, in trong: “Khoa Lịch Sử, Trường ĐH KHXH&NV: Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (1995-2000)”, Nxb Chính trị Quốc gia, 2000, tr.123-134; và Đỗ Trường Giang: Sự phát triển của thương mại Champa thế kỷ IX-X, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 (78), 2006, tr.75-79.

 2. Dấu vết Thành Thị Nại còn lại đến ngày nay nằm trên địa phận thôn Bình Lâm, xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nằm ở hạ lưu sông Kôn, tiếp giáp với đầm Thi Nại - một hải cảng tự nhiên sớm được sử dụng trong lịch sử. 

  3. Manguin: Les Portugais sur les côtes du Việt Nam et du Campa, BEFEO, T.L XV Paris, 1968, tr.166

  4. Lê Đình Phụng: Vài ý kiến về thành cổ Champa ở Bình Định, chuyên san "Văn hoá Chăm trên đất Bình Định", Sở VHTT Bình Định, 1993, tr.5-26.

  5. Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội - 1993, tr.87.

  6. Trần Quốc Vượng: Miền Trung Việt nam và văn hoá Champa, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4 (21), 1995. GS Trần Quốc Vượng với cái nhìn Địa  - Văn hoá độc đáo đã đưa ra mô hình hoá các vùng văn hoá Champa: Núi Thánh -Thánh địa  - Thành  - Cảng thị được nối liền với nhau bởi một hệ thống sông.

  7. Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia. By KENNETH R. HALL. Honolulu: University of Hawaii Press, 1985, tr.183

  8. Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, Hà Nội, 1976, tr.332.

  9. Nguyễn Văn Kim: Hệ thống thương cảng Vân Đồn qua tư liệu lịch sử và khảo cổ học, tạp chí Khảo cổ học, số 4-2006, tr.46-65.

  10. Momoki Shiro: Đại Việt và thương mại ở biển Đông từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, tr.309-330.

  11. K.Hall: Maritime Trade and State Development…sđd, tr.184.

  12. Allison I. Diem: Bằng chứng về quan hệ buôn bán gốm giữa Champa và Philippinese, in trong: "Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam". Tập II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội - 2005.

  13. Peter Burns, Roxanna M.Brown: Quan hệ ngoại giao Chàm-Philippinese thế kỷ XI, in trong: "Đô thị cổ Hội An", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội - 1991, tr.101-106

  14 Geoff.Wade: On the Possible Cham Origin of Philippin Scripts, JSEAS 24, No.1, 1993, tr.44-87.

  15. Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục,tr. 227. 

  16. Peter Burns - Roxanna M.Brown: Quan hệ ngoại giao Chàm-Philippinese thế kỷ XI, sđd, tr.101-106.

  17. K.Hall: Maritime Trade and State Development…sđd, tr.184

 

ĐỖ TRƯỜNG GIANG (Theo Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á )



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
Mandala (phan 3) [07.09.2010 09:23]



NHỚ MẮM
VÌ SAO BAO TÀNG THIẾU SỨC SỐNG
KIẾN TRÚC TRE VIỆT NAM ĐƯỢC VINH DANH TẠI MỸ
QUÊN NGƯỜI
BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỚI QUẢ TIM BẤT DIỆT.
Mắm ruột mà quệt cà giòn...
BIỂN & NỖI NHỚ!
Tản văn cho biển
Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20
TAM QUAN TRONG KIẾN TRÚC VIỆT
Bình thơ: Vua và em - Trần Viết Dũng
Rằm giêng hát bội Phò An
Để “mọi quyền hành, lực lượng đều nơi dân”
"Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"
Người Bình Định và làng Việt tại Pleiku


© Copyright 2007 - 2017 Gosanh.vn 
BẢO TÀNG GỐM CỔ GÒ SÀNH VIJAYA - CHAMPA - BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: khu du lịch Bãi Dại - phường Ghềnh Ráng - T/P Quy Nhơn - Bình Định.
Điện thoại: 84.0913472778 - 84.0946940666. Email: museum@gosanh.vn