TRANG CHỦ
    GỐM CỔ GÒ SÀNH
    BẢO TÀNG GỐM GÒ SÀNH
      - Gốm Thờ Tự
      - Gốm Ngự Dụng
      - Gốm Thương Mại
      - Hoạt động và sự kiện
    TƯ LIỆU VÀ NGHIÊN CỨU
    BÌNH ĐỊNH XƯA VÀ NAY
      - Võ Nghệ
      - Ẩm Thực
      - Văn Học
      - Âm Nhạc
    TỪ TRONG DI SẢN
    ẢNH GOSANH.VN
    VIDEO
    LIÊN KẾT
 Khách Thăm: 001075148
< d>
< d>
< d>
< d>
< d>
 
Những bộ phận của nhà rường Quảng Nam
30.06.2008 11:17 - 4428

Kiến Trúc Nhà Rường
Kiến Trúc Nhà Rường
Là nhà ngôn ngữ vừa là nhà dân tộc học,ông Nguyễn Bạt Tụy đã có nhiều bài viết nghiên cứu về văn hóa miền Trung và Tây Nguyên.Các bộ phận của bất cứ căn nhà nào cũng có thể chia ra làm ba hạng: những bộ phận che trên, những bộ phận vây quanh và những bộ phận phụ thuộc.

Vào những năm 60,70 của thế kỷ XX, các tập san như Văn hóa Nguyệt san, Xây dựng mới Sài Gòn… đã liên tục đăng nhiều số về những bài khảo luận của ông. Để tăng thêm nguồn thông tin mà ông đã ghi, giải thích cặn kẽ trong những chuyến đi điền dã, cách dựng nhà, những bộ phận cấu kiện của những ngôi nhà xưa ở Quảng Nam, chúng tôi xin trích một phần trong bài “Những nhà xưa ở Quảng Nam”, Văn hóa Nguyệt San số (1961) Sài Gòn từ trang 233-241

1.Các bộ phận của bất cứ căn nhà nào cũng có thể chia ra làm ba hạng: những bộ phận che trên, những bộ phận vây quanh và những bộ phận phụ thuộc.

Những bộ phận che trên của căn nhà Quảng Nam, cũng như ở Bắc hay ở Nam, gồm có hai mái chính, một mái trước, một mái sau gặp nhau ở nóc, và hai mái bên nếu nhà có hai chái. Các mái được chống đỡ bằng cột và sườn mái lập thành nởi những kèo đổ dốc xuống hai bên nóc, trên có những hoành tử nằm ngang và trên nữa có những rui nằm dọc theo chiều kèo. Ngoài những tên ấy, ta thấy vài cách gọi các bộ phận hơi khác.

a. Cây gỗ dài nằm ngang trên vị trí của các đầu kèo giáp nhau để đỡ nóc không gọi là giép nóc (Hà-đông) như ở Bắc, mà gọi là đòn đông. Tiếng này phát âm là đòn đông từ Bình Định trở vào, là đòn-đôông ở tỉnh Bình Trị Thiên, và có lý do của nó. Khác cái “giép nóc” ở Bắc thường xẻ vuông và ở những nhà năm gian sáu vì, muốn kỹ hơn thì “chém cạnh xoi lu” rồi “thắt cổ chày” hai đầu cho lọt vào hai cái chốt ở cái chồng – rường (x.A.1d), ”đòn-đông” ở đây chuốt tròn theo nguyên hình cây gỗ hạ ở rừng về, với một đầu “gốc” hơi lớn hơn đầu “ngọn” để dễ phân biệt khi chọn hướng đặt.

Theo mối tin tưởng cổ truyền thì cây đòn đỡ nóc là chủ chốt của căn nhà, nên đầu gốc phải để về một hướng nhất định là bên tả, đầu ngọn để về bên hữu. Lại theo một ước lệ thì trong căn nhà, bên tả gọi là “đông”, bên hữu gọi là “tây” (“đông vị tà,tây vị hữu”), nên cây đòn ấy phải có góc quay về bên đông, và nhân đó có luôn tên là đòn-đông.

Như vậy tiếng đông ở đây để gọi hướng, vì ngoan cố hay vì hiểu lầm nghĩa tiếng đông, đã cho đòn đông quay về phía biển, tức phương đông, mà ngược với hướng nhà cổ truyền, thì chẳng bao lâu cũng xảy ra nhiều chuyện lục đục và phải xoay chiều đòn đông lại.

Nhân đó, về cây đòn đông có một giai thoại nho nhỏ, theo đó xưa kia có một ông nhà giàu đã xuýt vì tính tình khắc nghiệt của ông mà bị hại trong vụ cất nhà. Thoạt đầu ông quá chặt chẽ với người thợ rừng nên người này “chơi trác”, chuốt gốc cây nhỏ hơn ngọn để người thợ cả cứ đầu lớn mà để về bên “đông” và như thế là lầm gốc về bên “tây”. Nhưng rồi ông ta lại quá khó tính với người thợ cả, nên người thợ này lập tâm phản cho bỏ ghét mà để đầu nhỏ về bên “đông” thay vì đầu lớn, đinh ninh rằng đó là đầu ngọn. Ai ngờ rùi lại hóa may: chính đầu nhỏ ấy mới là đầu gốc và ông nhà giàu vô tình đã thoát hiểm, vì đầu gốc rút cục lại vẫn ở bên “đông”.

b. Các cột cũng có nhưng khác nhau tùy theo vị rí của nó trong cái nhà. Nếu ta nhận xét một căn nhà rường thông thường có sáu hàng cột thì hai hàng cột ở liền hai bên nóc là cột lòng nhất, tức cột cái trước và cột cái sau ở Bắc, hai hàng cột kế đó là cột lòng nhì, tức cột đóng cửa và cột cửa võng ở Bắc; hai hàng cột trước nhất và sau nhất và sau cùng là cột lòng ba, tức cột hiên trước và cột hiên sau ở Bắc.

Cột nhà ở Quảng Nam thường sàn sàn như nhau, không mấy khi lớn, chớ ở Bắc phân biệt những nhà “tiểu khoa” có cột 2 tấc, những nhà “trung khoa”  có cột trên 2 tấc, và những nhà “đại khoa” có cột tới 5 tấc. Ngoài ra, những cột ở hai bên chái có những tên đặc biệt: cột quyết để chống, hai cây “quyết”, cột đấm để chống hai cây “đấm”. Hai tiếng này được dùng suốt lên tới Quảng Bình, Hà Tĩnh.

c. Các kèo cũng bắt vào nhau ở chỗ giao nguyên, nghĩa là chỗ gặp nhau dưới đòn đông, bằng những chốt dài gọi là con sỏ như ở Bắc, nhưng ở Quảng Nam không phân biệt như ở Bắc: kèo dài suốt nóc xuống chân mái, với kẻ có từng đoạn chồng lên nhau ở các đầu cột mà truyền đi. Bởi vậy ở đây không có những tên: Nhà kèo là hạng nhà thường; Nhà kẻ là hạng nhà lớn có kẻ truyền chia ra kẻ nóc, kẻ ngồi, kẻ hiên. Trái lại, theo mỗi khu giữa hàng cột,người ta chỉ gọi: kèo lòng nhất từ đòn đông xuống cột lòng nhất; Kèo lòng nhì từ cột lòng nhất xuống cột hàng nhì; kèo lòng ba từ cột lòng nhì xuống cột lòng ba.

d. Các cây gỗ nối các cột với nhau có hai loại: trính và xuyên.

Trính nối cột trước với cột sau. Nó có thể là trính đoản nếu chỉ ở giữa hai cột lòng nhất với hai đầu thòi ra mà chặn bằng hai cái chốt thắt, hay là trính-trường nếu chạy suốt từ tường trước đến tường sau mà không có cột chống giữa. Những trính này, dầu là đoản hay trường, thường đỡ một hay hai cột ngắn đứng trên để chống kèo: nếu một cái thì ăn thẳng vào giao nguyên, nếu hai cái thì gặp hai bên kèo ở lưng chừng. Đó là những con đội mà từ Bình Định trở vào người ta gọi là trụ lỏng. Ở Thừa Thiên, cái trính gọi là cái trến, còn con đội lại là trụ tiêu đứng trên hạ để đỡ trến-thượng, hay báp quả (có người nói áp quả) đứng trên trến-thượng để chống đòn đông.

Tôi còn nhớ, khi thăm vài ngôi chùa ở núi Non Nước, có hỏi chuyện vài thầy chùa trẻ tuổi về các bộ phận trong chùa. Khi hỏi về “con đội” thì không vị nào biết gọi là gì mà xác nhận là lo việc tu hành nên không để ý đến những cái tỉ mỉ ấy. Sau cùng một vị đến bảo rằng đó là cái “trụ lòng” thì tôi không cần chú trọng đến giọng nói mà hỏi ngay: “xin lỗi thầy, nếu tôi không lầm thì thầy là người Bình Định”. Nhà sư rất ngạc nhiên và chịu rằng tôi đã đoán trúng: đó cũng là dịp để áp dụng những nhận xét về tiếng địa phương.

Riêng ở những nhà lớn, nhất là ở nhà phố, thay vì một cây trính, người ta có thể chồng dùi, nghĩa là để hai ba cây trính chồng lên nhau bằng những con đội ngắn có trốn phình ra như hình trái bí mà gọi là trụ trái bí. Đó là trường hợp kiểu trính Nhật Bổn trong đó có trính nhất, trính nhì, trính ba, kể từ dưới lên, như lối chồng rường ngoài Bắc có ba cái Rường chồng lên nhau bằng những đấu trên một cái báng,ở những kiểu nhà “đại khoa”.

Nhân đây cũng nên thêm rằng ở Trung, ngoài trính ra, không còn có cây gỗ dọc nào nối cột với nhau nữa, chớ ở Bắc, dưới báng còn có xà dọc chia ra xà lòng ở giữa hai cột cái và hai xà nách trước và sau. Ở các đình-miếu hay các nhà quan, người ta thường bỏ xà lòng đi cho tòa kiến trúc có vẻ nguy nga, nhưng ở nhà dân phải để, nếu không thì là “lộng hành”.

Xuyên nối giữa các cột giữa với cột bên, tức là xà ngang ở Bắc, trám ở Hà Tĩnh. Ở những kiểu nhà “ba gian hai chái” cố nhiên mỗi hàng cột chỉ có một xuyên nằm ngang, nhưng ở kiểu nhà “ba gian hai chái”, ngoài những đoạn xuyên nối các cột ở trước và sau, còn có hai trường hợp riêng về xuyên ở giữa. Trong các nhà rội, ở hàng cột cái có một xuyên trung ở giữa và hai xuyên thứ ở hai bên mà thấp hơn: đó là loại xuyên tam sơn. Trong các nhà rường thì nhiều khi hai hàng cột lòng nhất có hai xuyên trung song song theo chiều ngang và hai trính đoản song song theo chiều dọc mà đỡ những tấm ván bắc ngang để lập thành cái khuông cụi.

Ngoài ra cũng nên kể cây xà cò (có lẽ là xà cò nói chệch thành, vì ở Thừa Thiên còn có tên xà rút), song song với đòn đông mà ở dưới một chút để nối, hay “co”, hai đầu cột với nhau.

e. Các cây gỗ đặt ngang trên kèo để đỡ rui gọi là hoành tử ở Quảng Nam, cũng như ở Bắc, và một số gọi là đoàn tay, như người ta vẫn quen gọi ở vùng Nghệ Tĩnh. Nhưng đặc biệt có một điều là các hoành tử đặt đúng trên đầu cột thì gọi là xà, và “cái mè” ở Bắc gọi là mèn, và ở xã Kỳ Sanh, quận Tam Kỳ tôi còn thấy phân biệt mèn ở nhà ngói với ron ở nhà lá. Trái lại, ở Thừa Thiên, xà nối các đầu cột với nhau và trên nó vẫn có đòn tay để đỡ rui.

2. Những bộ phận vây quanh nhà gồm ba mặt ván hay tường và một mặt cửa.

a. Về những tường quanh nhà, gọi là thành rào thì không có gì đáng nói, trừ cách gọi tên quá lạ của nó, và hai lối đi chừa ra hai bên ngăn hai hàng cột bên với vách và gọi là hè dục, nghĩa là một thứ hè đã bít kín ở các nhà chỉ có 4 hàng cột và khi cất lên không trù tính trái.

Hơn nữa, hai tấm vách hẹp ở mặt trước nối hai đầu thành rào với hai cột bên cũng có một tên không kém lạ là phên bắc, và tiếng phên này làm ta suy luận và ước đoán rằng xưa kia chắc có nhiều nhà có làm phên ở đó thay vì tường. Nhưng cũng phải nhận xét rằng ở đây trước nhà không thấy che phên, che dại hay che sáo. Riêng tiếng sáo phải lên đến Huế mới thấy nói đến, nhưng không phải thứ sáo bằng nan tre nhỏ ken khít, đứng trong nhìn ra thì thấy rõ, đứng ngoài nhìn vào thì tối om, mà là thứ sáo bằng nan tre to ken thưa chặn lên trên lớp gót (=cót) ngoài cùng của cái mui “nốc”, một thứ thuyền bằng mũi băng lái thông dụng từ Thừa Thiên lên tới Hà Tĩnh.

b. Về cửa trước, có ba khuôn dựng trong phạm vi bốn cây cột lòng ta, thì nhiều cái đáng kể hơn. Cửa các nhà thôn quê ở Bắc thường có một cái khung dựng trên một cây ngạch nằm ngang sát đất. Phía dưới cây gỗ ngang của khung bao giờ cũng có một cây thứ hai gọi là quang, phía trên ngạch lại có một cây gỗ ngang khác gọi là bậc. Từ quang đến khu bằng từ bậc đến ngạch và mỗi khoảng cách ấy được bít bằng những tấm ván có những tên rất có ý nghĩa: lá gió trên và lá gió dưới,

Nhưng cửa các nhà ở Quảng Nam nói riêng và ở miền Trung nói chung chỉ có ngạch mà không có bậc, nghĩa là ta có thể qua lại tự nhiên, khỏi phải “ngoạch”cái chân mà bước từ hè vào nhà. Như vậy cái khuôn nhận phía trên cửa ở Quảng Nam tức là tấm lá gió trên ở Bắc. Còn ở Thừa Thiên thì nó lại có tên là liên ba cửa, vì cũng giống các liên ba tiền, hậu, thượng, hạ ở phía trong nhà.      

3. Cuối cùng là vài bộ phận phụ thuộc mà ta có thể kể như sau:

a. Những khuông nhận (tác giả muốn nói những khuông bông trang trí trong lòng xuyên B.T) để trám vào các khoảng trống giữa xuyên ở dưới, xà ở trên và cột hai bên, dầu ở hàng cột lòng nhất hay lòng ba. Khuông nhận này có thể là cả một tấm ván, là những tấm ván nhỏ lồng vào then ngang dọc, hay là những con tiện xinh xắn góp vẻ tinh vi vào những đường chạm trỗ ở các đầu trính, đầu kèo.

b. Những phên lụa là những vách ván chạy vòng theo các cột bên và sau,thường thấy trong các kiểu nhà vườn chỉ có bốn hàng cột: hai hàng cột lòng nhất, cũng gọi là cột cái, hai hàng cột lòng nhì, cũng gọi là cột con. Phên lụa này chạy dọc nối hai cột cái tiền và hậu ở hai bên, rồi chạy ngang nối hai cột cái hậu ở bên và giữa, để đến khoảng hai cột cái hậu giữa thì dựng thụt vào phía sau mà không ăn vào cột con hậu. Như vậy, hai gian thứ ở hai bên trông nông hơn gian trung ở giữa, vì gian này có thêm một chỗ ăn sâu vào để bày bàn thờ, và người ta có thể đi vòng từ hè dục này qua phía sau các phên lụa mà ra hè dục kia.

c. Hai khu đĩ là phần tam giác còn chừa lại phía trên chỗ mái chái nhà đổ từ hai đầu hồi xuống. Tiếng này thông dụng cho đến Quảng Bình, Hà Tĩnh, và câu tục ngữ “Ma trèo khu đĩ” là một bằng chứng rằng tiếng ấy có từ lâu ở miền Trung, mặc dầu không được nhã, trong khi ở miền Bắc, theo tầm hiểu biết của tôi, không ai nghĩ đến một tên cho phần nhà ấy.



Nguyễn Bạt Tụy (Theo TTBTDSDT QUẢNG NAM)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
THÁP BÁNH ÍT [14.01.2011 15:11]
Theo dấu nhà cổ [20.01.2008 21:08]



NHỚ MẮM
VÌ SAO BAO TÀNG THIẾU SỨC SỐNG
KIẾN TRÚC TRE VIỆT NAM ĐƯỢC VINH DANH TẠI MỸ
QUÊN NGƯỜI
BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỚI QUẢ TIM BẤT DIỆT.
Mắm ruột mà quệt cà giòn...
BIỂN & NỖI NHỚ!
Tản văn cho biển
Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20
TAM QUAN TRONG KIẾN TRÚC VIỆT
Bình thơ: Vua và em - Trần Viết Dũng
Rằm giêng hát bội Phò An
Để “mọi quyền hành, lực lượng đều nơi dân”
"Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"
Người Bình Định và làng Việt tại Pleiku


© Copyright 2007 - 2017 Gosanh.vn 
BẢO TÀNG GỐM CỔ GÒ SÀNH VIJAYA - CHAMPA - BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: khu du lịch Bãi Dại - phường Ghềnh Ráng - T/P Quy Nhơn - Bình Định.
Điện thoại: 84.0913472778 - 84.0946940666. Email: museum@gosanh.vn