TRANG CHỦ
    GỐM CỔ GÒ SÀNH
    BẢO TÀNG GỐM GÒ SÀNH
      - Gốm Thờ Tự
      - Gốm Ngự Dụng
      - Gốm Thương Mại
      - Hoạt động và sự kiện
    TƯ LIỆU VÀ NGHIÊN CỨU
    BÌNH ĐỊNH XƯA VÀ NAY
      - Võ Nghệ
      - Ẩm Thực
      - Văn Học
      - Âm Nhạc
    TỪ TRONG DI SẢN
    ẢNH GOSANH.VN
    VIDEO
    LIÊN KẾT
 Khách Thăm: 001065943
< d>
< d>
< d>
< d>
< d>
 
NHÀ LÁ MÁI - Nét văn hoá độc đáo của làng quê Bình Định ( phần 2 )
30.10.2007 20:57 - 2960

Nhà lá mái ở làng quê Bình Định
Nhà lá mái ở làng quê Bình Định
Vách nhà lá mái cũng được làm hai lớp. Để trét vách, người ta dùng tre đã ngâm kỹ, chẻ thành mầm, trỉ.Cây mầm to bảng hơn cây trỉ ( khoảng ½ cây tre ) dựng đứng bên trong vách cách nhau vài ba tấc để cột cây trỉ làm sườn trét vách. Ðất ruộng pha sét nhào nhuyễn với rơm, nhét vào những ô mầm trỉ. Hàng trỉ giữ cho đất không rơi. Trét 2 phía trong ngoài xong, thợ đất còn dùng đất gò mối trộn nước dây tơ hồng hồ lại lớp mặt cho phẳng, nhuyễn. Nếu trét không kỹ hoặc trét bằng đất bở thì khi vách khô, đất nứt nẻ, rơm lòi ra ngoài rất xấu. Nền nhà lá mái vẫn là nền đất nện như kiến trúc nhà ở đồng bằng quen thuộc của người Việt, nhưng có một điểm khác là nền của nhà lá mái tuyền bằng đất thịt trộn muối đằm kỹ. Nền nhà kiểu này không bị nứt nẻ vào mùa nóng, lại khô ráo vào mùa mưa. Xung quanh nền thường đắp đá ong có nhiều ở đồi Gò Quánh, hoặc Nhơn Hậu, huyện An Nhơn. Nền nhà trên phải cao hơn nhà dưới, nhà trước phải cao hơn nhà sau, vì theo quan niệm của người Bình Định thì:

Nền nhà  nước đổ chảy vào
làm ăn phát đạt đón  chào ngợi ca
nền nhà  nước đổ chảy ra
làm ăn kha khá  tiêu  pha bội phần
nền nhà  bằng phẳng như cân
đề phòng  con cháu ái ân tư tình.
 

Dàn cửa chính trong nhà lá mái được xoi chỉ rảnh, chạm khắc công phu. Ngày trước  chủ yếu là cửa bàng khoa  gồm nhiều khung hình chữ nhật  theo chiều đứng. Mỗi khung lại chia ra  nhiều ô, phần trên là những ô vuông, phần dưới là ô hình chữ nhật lát ván. Giữa các ô có nhiều khung với các rãnh lồi chạm hoa văn rất đẹp. Một  số ô vuông ở trên có  những trụ nhỏ đẩy qua đẩy lại được  để tạo ra khoảng trống cho mát. Vì thế nên cửa này còn có tên gọi là cửa” thượng song hạ bảng” là vậy.
 Nhà nghèo thì  làm cửa” phên dại”, cửa này cũng  có cấu tạo bằng khung gỗ  hình chữ nhật đứng, có khổ thường là khoảng ( 8tấc x 1,6 m ), có các thanh ngang cho chắc. Người ta chẻ tre, vót kỹ rồi gài vào  các thanh ngang của khung này cho kín  sịt sẽ có   một tấm cửa phênh dại  bằng phẳng và kín đáo . Những ngày giỗ kỵ hoặc cưới hỏi, người ta dễ dàng tháo rời từng tấm cửa cho rộng rãi  và tận dụng kê  làm  bàn ăn hoặc giường nghỉ thật tiện lợi. Ngày nay, người ta ít dùng cửa phênh dại hoặc cửa bàng khoa  mà thay bằng  các cửa lá sách  hoặc cửa bảng  tiện lợi và đẹp hơn. Cửa lá sách  phần dưới khép kín bằng  những tấm ván  vuông  như cửa bảng, phần trên có nhiều thanh gỗ xếp  nghiêng nghiêng để thông gió  và từ bên ngoài không nhìn vào được. Lối kết cấu cửa ngõ của nhà lá mái cũng thể hiện tính cách của chủ gia là sống khép kín, “ đóng cửa bảo nhau”, không muốn “ chuyện trong nhà chưa rõ, ngoài ngõ đã tường.  Cửa của nhà lá mái ở Bình Định  thường thấp, bậc lại cao, đặc biệt là cửa đi lên  gian nhà trên, nơi  có bàn thờ. Theo các cụ già  giải thích  thì cần bố trí  cửa như thế  để nhắc nhở mọi người  khi bước vào gian thờ tự phải cúi đầu, mọi động tác phải khoan thai, cung kính. Đặc biệt, ngày xưa, gian thờ này  người phụ nữ không được vãng lai. Ngày nay, tục này không còn nữa, vì vai trò  nam nữ bình quyền và cũng vì người đàn ông  luôn đi làm ăn xa, mọi công việc ở nhà, kể cả nhang đèn, cúng giỗ đều do người phụ nữ quán xuyến, nếu không được vãng lai thì  lấy người đâu mà hương khói !  Ngoài việc chạm khắc sao cho sinh động, trình độ của thợ làm nhà lá mái sẽ được bộc lộ ở khâu xoi đục các ngàm miệng. Những ngàm miệng này  vừa đẹp vừa chắc, lại rất khít khao. Nhiều chủ nhà đã  thử bằng cách đổ nước vào chỗ lắp ghép, lúc tháo ra nếu phần lỗ mộng bên trong vẫn khô là đạt yêu cầu.  Trong việc dựng nhà lá mái, quan trọng nhất là gác đòn dông. Lễ gác đòn dông  thường tiến hành vào đêm khuya để tránh người ta “ dòm ngó “, nhất là đàn bà chửa. Luận về cách chọn ngày giờ để gác đòn dông, dân gian Bình Định có bài thơ: Kinh Dịch luận gác đòn dôngGiờ Tí, giờ Sửu: Phước hồng trời ban  

Khi đòn dông gác lên phải dán một lá bùa và treo một bát quái bằng gỗ để cầu an, trừ tà. Gỗ làm đòn dông phải là cây  thẳng, tròn, không bị sâu mọt. Khi gác đòn dông, bao giờ đầu ngọn cũng phải nằm bên tay  phải của ngôi nhà. Về kinh nghiệm này, người Bình Định có bài thơ về cách đặt trang ông táo và gác đòn dông:
 
Ngồi trong nhà nhìn ra đường cái

Gốc đòn dông tay trái tả ban
Ngọn dông  tay phải rõ ràng
Cùng là trang táo thiếp chàng nên ghi.
 

Nhà lá mái ở Bình Định  thường  có từ 12 đến 16 cây cột  lớn trồng thẳng xuống đất theo bốn hàng, mỗi hàng bốn cây, bao gồm: Hàng cột cái ( cao và to nhất ) rồi đến hàng cột con, hoặc cột nhì, cột ba nhỏ và thấp hơn. Riêng bốn cây  cột ở giữa cao  từ 3,5m  đến 4m, còn các cây cột bên ngoài  giảm đều xuống từ  2 đến 3m. Đoạn tiếp giữa các đầu cột  với các cây xiên, trính đều có chạm  trổ hình con lân, qui, hoặc nho sóc  rất công phu.
 Xiên là cây  đặt từ đầu cột này sang đầu cột kia theo chiều dọc ngôi nhà.Trính  là cây  đặt từ  đầu cột này sang đầu cột kia theo chiều ngang của ngôi nhà.Ở Bình Định, cây xiên thường bào có cạnh lục giác, chạy rãnh nổi, hoặc chạm hoa văn rất đẹp; còn cây trính ( để đỡ trụ lỏng ) thì được đẽo bằng một khúc gỗ rất to, dáng  cong hình vòm, và cũng được chạm trổ hoa văn, sống  nổi , uốn lượn  dọc theo thân cây. Khi đầu cột có chạm trổ thì đầu kèo cũng chạm trổ cho cân xứng. Các cây trính, xiên dùng gỗ vuông thì  ở cạnh có chạy chỉ  và những gờ, rãnh  dọc chiều dài cho đẹp. Ngoài các cột đứng còn có các trụ lỏng; tuỳ theo nhà mà có trụ lỏng cối, trụ lỏng ba lá hoặc trụ lỏng  chữ lập. Trong nhà lá mái, trụ lỏng  và xiên, trính là  các  điểm trang trí  quan trọng. Khách đến thường  nhìn lên trần và thấy ngay trụ lỏng, cũng như trính, xiên… cho nên trụ lỏng không  chỉ là cây gỗ thẳng đơn thuần mà  còn được trang trí  dưới nhiều hình thức. Điều đặc biệt ở  nhà lá mái là nơi giáp khớp, ngàm, người ta không dùng đinh như ngày nay mà  khoan lỗ, đóng những con sẻ  bằng tre đực già  thay đinh  giữ  chặt, vì thế khi chạm trổ không đụng đến lưỡi bạc, chàng, hoặc cưa đục của thợ mộc. 
        



Nhà cất theo kiểu ấy trông nặng nề vì cột choáng hết nhiều chỗ. Hơn nữa, ba gian nhà trên hoàn toàn dùng để thờ. Trước bàn thờ kê trường kỷ hoặc phản gõ, thỉnh thoảng khách đến ngồi và nằm, chứ người trong nhà ít khi dùng đến. Trong nhà lại treo nhiều liễn, đối,  trướng,  sáo… cho nên dù nhà rộng đến đâu, vào cũng thấy lấn cấn không được thoải mái.         

Nhà    mái thường xoay mặt vào hướng  Nam. Và nhà nào cũng đều có vườn cây ở chung quanh và sân ở phía trước, rồi  hàng rào ở 4 bên. Nhiều nhà chỉ trồng” cau liên phòng “ và chuối, ( chuối vườn sau, cau vườn trước ); sân phần nhiều dện đất thịt. Để khỏi nổi bùn, hàng năm dùng phân bò tươi khuấy nước sềnh sệch, đem tráng lên mặt sân cho láng để phơi thóc  đậu, nông sản. Còn hàng rào thì mặt trước thường trồng duối, chè tàu, hớt tỉa mỹ thuật, hoặc rào cây tre khô, bằng thẳng chắc chắn. Phía sau và hai bên thường trồng tre, trúc cao xanh. Trong vườn thì trồng các loại rau cải, hoa quả, mùa nào thức ấy. Đặc biệt, đến ngày tết nhà nào cũng trồng hoa vạn thọ vàng ươm cả vườn.
 
         

Ngõ ra vào trổ trước nhà. Có nhà trổ thêm ngõ sau. Và ngõ sau cũng như ngõ trước đều trổ xiên một bên, chứ không bao giờ trổ ngay ở giữa. Ngõ trước nếu vì phương hướng phải trổ ở giữa, thì đường vào nhà cũng phải chạy né một bên, hoặc quanh co như ất tự:
 
Đường đi,  nước chảy chớ cho ngay
Hai bên thềm uyển như ất tự
Gia nội an khương, tự nhiên hưng.
 

Từ cách bố trí cửa, ngõ, sân, vườn như trên, đã tạo nên sự hài hoà giữa thiên nhiên và kiến trúc. Sống trong nhà lá mái, tuy kín mà không bí, thấp mà không ẩm, con người  dễ giao hoà với thiên nhiên cây cỏ nên thường sống thanh bạch, đậm nhân văn và có cốt cách văn hoá cao.
 
         

Mái nhà xưa, khu vườn cổ “ chính là  môi trường thích hợp  để bảo tồn thuần phong mỹ tục, đạo lý  truyền thống của gia đình  mà người  Bình Định gọi chung là “nếp nhà”. Phải chăng tên gọi “nếp nhà “ này cũng xuất phát từ gia phong  của những chủ nhân ngôi nhà lá mái  ở Bình Định. 
 
      

Như vậy, không chỉ là một di sản vật chất quý báu, nhà lá mái còn là  một phần đời sống tinh thần, một nét văn hóa tốt đẹp của người Bình Ðịnh.
 Cách đây chừng hơn mươi năm, nhà lá mái vẫn còn khá nhiều ở vùng Bình Định, đặc biệt   khu vực ven kinh thành Hòang Ðế xưa. Nhưng nay do thiếu điều kiện bảo quản nên nhiều ngôi nhà cổ đã  bị hư hỏng dần.  
Nếu ở Phương Tây có những ngôi nhà tuyền gỗ thì nhà lá mái của Bình Định cũng có thể coi  là một loại hình  kiến trúc nhà gỗ  độc đáo không nơi nào có được. Bỡi gỗ là  vật liệu chính của nhà lá mái, gỗ hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi, kể cả trong ký ức và tương lai, trong cuộc sống hiện tại và lâu dài, và ngay cả trong cái chết của con người. 

Những ai từng lớn lên trong nhà lá mái không thể quên cái bậc cữa  mòn nhẵn, mỗi lần bước  qua  là một lần  quệt vào ống quyển đau nhói; và cũng không thể quên  những cây cột láng bóng  đã không biết bao nhiêu lần  va vào trán trong đêm khuya quờ lối  tìm cửa ra ngoài.  Và có lẽ tiếng động khó quên nhất trong nhà lá mái, đẫm đầy trong  ký ức tuổi thơ  là tiếng võng đưa cót két những trưa hè thanh vắng.

Âm thanh  ấy đối với tôi  như một sức mạnh huyền bí  neo giữ suốt đời  những ký ức  gắn liền với  tuổi thơ  trong ngôi nhà lá mái, và trở thành những vần thơ trong bài “ Tiếng võng ” viết năm 1989:                             
                          

“ Đi mòn tuổi xanh
                            
chiều nay con về thăm mẹ
                            
mới đến đầu hè
                            
đã nghe 
                            
tiếng võng đưa
                                               
cót két…
                        

mẹ đón con 
                            
lưng còng dáng võng
                            
xưa mẹ ru
                                     
võng còng
cót két…
                               
giờ mẹ già rồi
                                     
ru ai
                                     

cót két hoài
                                                         
tiếng võng
                                                                  
mẹ ơi!? “
 
         

Âm
thanh ấy tạo nên  từ gỗ, sắc màu ấy, tâm linh ấy  phôi thai từ gỗ. Gỗ không chỉ che chở, nâng đỡ, bao bọc  thân xác con người từ  lúc mới sinh ra cho đến lúc đã qua đời mà còn hun đúc những ý chí  bền bĩ, kiên trung; dưỡng nuôi những tinh thần  thuỷ chung, nhân hậu.
Thật vậy, ngoài những cột kèo, xiên, trính… gắn liền với ngôi nhà, gỗ còn kề cận với con người  trong sinh hoạt, sản xuất  qua những vật dụng, như: giường tủ, bàn ghế, hay thúng mủng, cuốc cày…. Từ chiếc tăm xỉa răng, đôi guốc mộc  đến chiếc nón đội đầu; từ tấm vạt giường  bện tre mát rượi  hay chiếc rế đặt dưới niêu cơm, chiếc rương đựng nữ trang, quần áo của cô gái  mới về làm dâu, hay cái cối cái chày thức suốt những đêm hò giã gạo, đến tấm phản gõ láng bóng ở nhà trên, hay bộ bình phong, liễn thờ  chạm khảm cầu kỳ … Tất cả  cùng sống, cùng yêu, cùng buồn vui chia sẻ với con người, giúp con người giữ nếp gia phong  đạo lý, sống  nhân hậu, yêu thương.

Gỗ có mặt ở ruộng vườn, gỗ sinh sôi nảy nở ở đồi nương, sông suối, gỗ đi theo suốt cuộc đời người … Ngày nay, có xi măng, sắt thép, dù bền vững và tiện lợi hơn nhiều, song vẫn không thể thay được  chiếc phản gõ mát rượi  những trưa hè, không thể thay được chiếc võng đưa cot két, và lại càng không thể thay được ngôi nhà cuối cùng cho người đã qua đời.      

Người Bình Định  bây giờ   làm nhà không dụng nhiều cột kèo, xiên trính nữa, mà xây xông thẳng lên chứ  không có chái, không có cột gỗ trong nhà. Người ta xây tường, thả đòn tay, đóng rui mè bằng tre ngâm kỹ ( hoặc dùng  sắt xà gồ ) rồi móc ngói, lợp to-le cho tiện. Nhà  giàu  thì đúc trụ, đổ bê tông mái bằng  chứ không dụng gỗ, vì bây giờ gỗ đã trở thành thứ  không phải “ của trời cho “ như xưa nữa. Song các  thứ đồ dùng, như án thờ, bàn ghế, sập, gụ… thì lại   được chạm trổ  tinh vi, cầu kỳ trông rất sang trọng, cổ kính  hơn xưa…./.


Mai Thìn



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
THÁP BÁNH ÍT [14.01.2011 15:11]
Theo dấu nhà cổ [20.01.2008 21:08]



NHỚ MẮM
VÌ SAO BAO TÀNG THIẾU SỨC SỐNG
KIẾN TRÚC TRE VIỆT NAM ĐƯỢC VINH DANH TẠI MỸ
QUÊN NGƯỜI
BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỚI QUẢ TIM BẤT DIỆT.
Mắm ruột mà quệt cà giòn...
BIỂN & NỖI NHỚ!
Tản văn cho biển
Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20
TAM QUAN TRONG KIẾN TRÚC VIỆT
Bình thơ: Vua và em - Trần Viết Dũng
Rằm giêng hát bội Phò An
Để “mọi quyền hành, lực lượng đều nơi dân”
"Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"
Người Bình Định và làng Việt tại Pleiku


© Copyright 2007 - 2017 Gosanh.vn 
BẢO TÀNG GỐM CỔ GÒ SÀNH VIJAYA - CHAMPA - BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: khu du lịch Bãi Dại - phường Ghềnh Ráng - T/P Quy Nhơn - Bình Định.
Điện thoại: 84.0913472778 - 84.0946940666. Email: museum@gosanh.vn